Hotline: 0326324312 | Thiết kế: Hoàng Tú Technology | Website: hoangtutech.com Thứ Tư, 27/05/2026
18
[gtranslate]
Tin Tức

Chúa Nhật II Phục Sinh Năm A – Kính Lòng Chúa Thương Xót

By Gioan Nguyễn Văn Hoàng

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH. CUỐI TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH.

KÍNH LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT.

Cv 2,42-47; 1Pr 1,3-9; Ga 20,19-31

Giáo xứ Cẩm Lệ Chầu Thánh Thể .

GIÁO HUẤN SỐ 20

Tông huấn NIỀM VUI CỦA TIN MỪNG (tiếp theo)

 “Giáo xứ không phải là một cơ chế lỗi thời; lý do chính là nó có tính linh động cao, nó có thể tiếp thu những tình huống khá khác biệt tuỳ theo sự cởi mở và óc sáng tạo truyền giáo của người mục tử và của cộng đoàn. Chắc chắn giáo xứ không phải là cơ chế duy nhất loan báo Tin Mừng, nhưng nếu nó tỏ ra có khả năng tự canh tân và thích nghi không ngừng, nó vẫn tiếp tục là “Hội Thánh sống giữa các gia đình của các con trai con gái mình”. Điều này có nghĩa là giáo xứ thực sự tiếp xúc với các gia đình và các cuộc đời của những con người, và không trở thành một cơ chế cách ly với con người hay một nhóm khép kín gồm một ít người được tuyển chọn. Giáo xứ là sự hiện diện của Hội Thánh tại một địa phương nhất định, một môi trường để nghe Lời Chúa, để tăng trưởng trong đời sống Kitô hữu, để đối thoại, rao giảng, làm việc bác ái, thờ phượng và mừng lễ. Trong mọi hoạt động của mình, giáo xứ cổ vũ và huấn luyện các thành viên của mình để trở thành những người loan báo Tin Mừng. Giáo xứ là một cộng đoàn của các cộng đoàn, một thánh điện để những người khát nước đến uống dọc đường, và một trung tâm thường xuyên vươn ra truyền giáo. Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng lời kêu gọi duyệt lại và canh tân các giáo xứ của chúng ta vẫn chưa đủ sức đưa các giáo xứ đến gần người dân hơn, biến các giáo xứ trở thành những môi trường sống hiệp thông và tham dự, và làm cho giáo xứ trở nên hoàn toàn hướng về truyền giáo”. (Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 28).

LƯU Ý: Các ngày trong tuần Mùa Phục Sinh:

a. Không được cử hành lễ cầu hồn hằng ngày (IM 381).

b. Chỉ được cử hành các lễ tùy nhu cầu hay ngoại lịch, nếu thật sự có nhu cầu và lợi ích mục vụ đòi hỏi (IM 376).

c. Được cử hành các lễ nhớ không bắt buộc về vị thánh có tên trong lịch hay trong sổ bộ các thánh ngày đó (IM 355b).

PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

(Cv 2,42-47; 1Pr 1,3-9; Ga 20,19-31)

Bài Ðọc I: Cv 2, 42-47

“Tất cả mọi kẻ tin, đều sống hoà hợp với nhau và để mọi sự làm của chung”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Khi ấy, các anh em bền bỉ tham dự những buổi giáo lý của các Tông đồ, việc thông hiệp huynh đệ, việc bẻ bánh và cầu nguyện . Mọi người đều có lòng kính sợ. Vì các Tông đồ làm nhiều việc phi thường và nhiều phép lạ tại Giêrusalem, nên mọi người đều sợ hãi. Tất cả mọi kẻ tin đều sống hoà hợp với nhau và để mọi sự làm của chung. Họ bán tài sản gia nghiệp, rồi phân phát cho mọi người tuỳ nhu cầu từng người. Hằng ngày họ hợp nhất một lòng một ý cùng nhau ở trong đền thờ, bẻ bánh ở nhà, họ dùng bữa cách vui vẻ đơn sơ; họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân mến chuộng. Hằng ngày Chúa cho gia tăng số người được cứu rỗi.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 117, 2-4. 13-15. 22-24

Ðáp: Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người muôn thuở”. Hỡi nhà Aaron, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người muôn thuở”. Hỡi những người tôn sợ Chúa, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người muôn thuở”.

Xướng: Tôi đã bị đẩy, bị xô cho ngã xuống, nhưng Chúa đã phù trợ tôi. Chúa là sức mạnh, là dũng lực của tôi, và Người trở nên Ðấng cứu độ tôi. Tiếng reo mừng và chiến thắng vang lên trong cư xá những kẻ hiền nhân. Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt.

Xướng: Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó.

 

Bài Ðọc II: 1 Pr 1, 3-9

“Nhờ việc Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, vì lòng từ bi cao cả, nhờ việc Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống, được hưởng gia nghiệp không hư nát, tinh tuyền, không suy tàn, dành để cho anh em trên trời. Anh em được bảo vệ trong quyền năng của Thiên Chúa, nhờ tin vào sự cứu độ đã được mạc khải trong thời sau hết. Lúc đó anh em sẽ vui mừng, tuy bây giờ anh em phải sầu khổ một ít lâu giữa trăm chiều thử thách, để đức tin anh em được tôi luyện, nên quý hơn vàng được thử lửa bội phần, nhờ đó, anh em được ngợi khen, vinh quang và vinh dự khi Ðức Giêsu Kitô hiện đến. Anh em yêu mến Ngài, dù không thấy Ngài, và anh em tin Ngài, dù bây giờ anh em cũng không thấy Ngài; bởi anh em tin, anh em sẽ được vui mừng vinh quang khôn tả, vì chắc rằng anh em đạt tới cứu cánh của đức tin là phần rỗi linh hồn.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”. – Alleluia.

 

PHÚC ÂM : Ga 20, 19-31

“Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: “Bình an cho các con”. Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: “Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại”. Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Ðiđymô, không cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: “Chúng tôi đã xem thấy Chúa”. Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin”.

Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: “Bình an cho các con”. Ðoạn Người nói với Tôma: “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin”. Tôma thưa rằng: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” Chúa Giêsu nói với ông: “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”.

Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.

Ðó là lời Chúa.

 SUY NIỆM I

Lm.Giuse Nguyễn Quốc Quang

BÌNH AN CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA PHỤC SINH

Chúng ta vừa mới nghe Tin Mừng Gioan thuật lại rõ ràng rằng chiều ngày thứ nhất trong tuần, tức 8 ngày sau khi Chúa Giêsu phục sinh, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, tại sao đóng kín? Vì sợ? Tại sao sợ, sợ cái gì? Sợ người Do thái đã giết Thầy được rồi thì tới mình cũng sẽ giết nếu đi ra rao giảng Tin Mừng. Dù lúc này, các ông đã gặp Chúa phục sinh rồi, biết Chúa sống lại rõ ràng rồi mà, tại sao không tin Chúa đã chiến thắng toàn diện, tại sao các ông không mạnh mẽ làm chứng cho Chúa. Vì nỗi sợ đau khổ, sợ chết làm cho các ông quên mất Chúa Giêsu phục sinh toàn năng, mất lòng tin vào Chúa phục sinh đã chiến thắng đau khổ, tử thần thì Ngài cũng làm cho mình chiến thắng đau khổ và thần chết! Vì thế các ông luôn bất an, đóng kín cửa lại hết. Thế rồi, Tin Mừng Gioan không dừng ở cửa đóng then cài mà đột nhiên Ngài viết: “Đức Giêsu đến và đứng giữa các ông”. Cửa đóng kín Chúa đi qua cửa nào mà vào được? Thánh Gioan muốn khẳng định rằng Chúa Giêsu phục sinh và thân xác Ngài vinh hiển, không lệ thuộc vào không gian vật chất này nữa, Ngài hiện diện khắp mọi nơi, Ngài hiện diện trước mặt và ở giữa các ông rồi nhưng vì sợ quá mà không nhìn ta Chúa đấy thôi. Thánh Gioan mô tả Chúa Giêsu phục sinh đứng giữa các ông chứ không đứng một bên, ở giữa có nghĩa Chúa Giêsu là trung tâm để mọi người nhìn thấy Chúa Giêsu hằng sống vẫn thương xót và hiệp nhất các ông nên một với Ngài và Chúa Cha. Ngài ở giữa cộng đoàn nhờ Ngài mà mọi người được sống và sống dồi dào. Vì thế, Chúa Giêsu nói: “ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20). Chúa Giêsu ở gữa họ để làm gì?

Để ban bình an phục sinh của Chúa cho các Tông đồ và cho cả chúng ta hôm nay.  Thánh Gioan kể Chúa Giêsu đã đến đứng ở các ông và nói: “Bình an cho các con”. Đây không phải lời chào xã giao, mà lời chúc phúc, lời ban bình an yêu thương thật sự. Chúng ta nhớ cũng trong Tin Mừng Gioan chương 14 câu 27, Đức Giêsu đã nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban bình an của Thầy cho anh em; Thầy ban không như thế gian ban”. Và cũng trong Tin Mừng Gioan chương 16 câu 33, Chúa Giêsu nói: “Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian”. Vâng, lúc này trong phòng kín đây, lời hứa, lời chúc và lời ban ấy trở thành hiện thực. Điều đáng chú ý rằng bình an được công bố trước khi Chúa cho các môn đệ nhìn thấy các dấu tích của cuộc thương khó, dấu tích của lòng Chúa thương xót, nghĩa là bình an không dựa trên việc họ đã hiểu, nhưng trên việc Ngài hiện diện thật sự sau khi phục sinh.

Tuy nhiên, lời chúc bình an, lời ban bình an thương xót cho các ông và chúng ta không trở thành một lời trấn an rỗng, lời nói suông mà Ngài làm một cử chỉ quyết định: “Ngài cho họ thấy tay và cạnh sườn của Ngài”, tức Ngài cho các ông thấy những dấu tích của lòng thương xót. Đây không chỉ là hành động trình bày bằng chứng, nhưng là hành động mặc khải lòng thương xót của Thiên Chúa đối cho con người trọn vẹn bằng việc đã trải mọi sự trên thế gian này dù đó là đau khổ và cái chết. Ngài sống lại không xóa dấu vết của đau khổ, đòn vọt, dấu đinh thập giá, lưỡi đòng. Trái lại, Ngài giữ lại các dấu tích của cuộc thương khó như phần cấu thành căn tính của mình đó là thương xót con người đến cùng.

Cho nên, khi hiện ra, Chúa Giêsu không trách móc các môn đệ vì đã bỏ trốn, chối Thầy. Ngài chỉ cho họ xem các vết thương, cũng là suối nguồn lòng thương xót. Chính từ đó, bình an được tuôn đổ. Vì vậy, bình an thật không đến từ sự hoàn hảo của chúng ta, nhưng đến từ việc được Chúa tha thứ và yêu thương. Nhiều khi chúng ta mất bình an vì tội lỗi, vì yếu đuối, vì quá khứ nhưng Chúa Phục Sinh vẫn đến và nói: “Bình an cho con” – nghĩa là: Cha tha thứ cho con, Cha vẫn yêu con. Cho nên, Thánh Phêrô trong bài đọc II khẳng định rằng: “Anh em vui mừng, dù còn phải chịu thử thách”. Người Kitô hữu không phải là người không có đau khổ, nhưng là người có niềm vui giữa đau khổ, vì biết rằng Chúa đang sống và đồng hành và ban muôn ơn cho chúng ta khi chúng ta chạy đến lòng thương Chúa bằng những việc mà Sách Công vụ Tông đồ bài đọc 1 mô tả cộng đoàn tiên khởi đã làm: (1)Chuyên cần nghe Lời Chúa, (2) Hiệp thông với nhau, (3) tham dự lễ Bẻ bánh và cầu nguyện và cuối cùng là sống yêu thương, chia sẻ.

Vâng, Chúa Giêsu phục sinh cũng đang đến với mỗi người chúng ta, nhất là trong những lúc: lo âu, tội lỗi và mất phương hướng. Và Ngài vẫn nói với chúng ta như nói với các Tông đồ xưa: “Bình an cho con!” Xin cho chúng ta biết chạy đến với lòng thương xót Chúa, mở lòng ra để đón nhận lòng thương xót của Chúa vào trong tâm hồn và cuộc đời ta, nhờ đó: Tâm hồn được bình an, đức tin được củng cố và đời sống trở nên chứng tá sống động cho người khác. Alleluia.

SUY NIỆM II

Lòng Thương Xót Chúa là biểu lộ của tình yêu Thiên Chúa

Lm. Step Võ Ngọc Đính

Lễ Lòng Chúa Thương Xót mà Giáo Hội mừng kính hôm nay được thiết lập trong Năm Thánh 2000. Chính trong dịp này, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên thánh cho Faustina Kowalska (1903-1938), một nữ tu Ba Lan có lòng yêu mến và nhiệt thành truyền bá sứ điệp Lòng Thương Xót của Chúa. Đồng thời, ngài cũng ấn định cho toàn thể Giáo Hội mừng lễ này vào Chúa Nhật thứ hai sau Chúa Nhật Phục Sinh.

Mừng lễ Lòng Chúa Thương Xót trong Chúa Nhật II Phục Sinh năm nay, chúng ta cùng nhau suy niệm hai điểm sau đây:

  1. Lòng Chúa Thương Xót là biểu lộ của tình yêu Thiên Chúa.

Con người có thể định nghĩa và diễn tả tình yêu theo nhiều cách thức khác nhau. Nhưng nơi Thiên Chúa, tình yêu của Ngài dành cho con người là vô điều kiện và không thể diễn tả trọn vẹn bằng ngôn từ của con người. Ngài yêu không chỉ bằng lời nói, lời hứa mà còn bằng một hành động vượt lên trí hiểu của con người. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Con Thiên Chúa đã chết và phục sinh để đền tội cho con người, bởi vì “Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta: khi chúng ta còn là tội nhân, thì Đức Kitô đã chết vì chúng ta” (Rm 5,8).

Nơi cuộc đời và sứ vụ của Đức Giêsu Kitô, tình yêu Thiên Chúa được thể hiện cách liên tục và chạm đến mỗi người chúng ta. Lòng Thương Xót của Chúa chính là biểu lộ của tình yêu ấy dành cho con người.

Hôm nay, trong bài Tin Mừng thánh Gioan, chúng ta nghe việc Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra ban bình an cho các Tông Đồ, nhưng lúc đó không có Tôma. Tám ngày sau, khi Tôma có mặt với anh em, Chúa Phục Sinh lại hiện ra và cũng ban bình an cho các ông. Điều đáng lưu ý ở đây là trong lần hiện ra này, Ngài không trách Tôma, nhưng tỏ lòng thương xót ông. Ngài mời gọi Tôma chạm vào các dấu đinh và cạnh sườn của Ngài, để giúp ông tin. Chúa nói với Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20, 27-28). Tôma được Chúa yêu thương và thương xót, nên ông đã thưa lên cách mạnh mẽ: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Ông mạnh dạn tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa và là Thiên Chúa của mình. Và Đức Giêsu nói với Tôma: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20,29). Tôma được diễm phúc thấy Chúa; còn chúng ta hôm nay cũng thật hạnh phúc khi được biết Chúa, tin vào Chúa và yêu mến Chúa, dù không thấy Ngài trực tiếp. Hạnh phúc ấy chính là hoa trái của lòng thương xót Chúa dành cho chúng ta. Vì thế, chúng ta hãnh diện là con cái Chúa, hãnh diện là người Kitô hữu trong Giáo Hội Công Giáo.

Qua đó, chúng ta cảm nhận được một điều là: Chúa Giêsu thông cảm, hiểu cho sự yếu đuối và cứng lòng tin của Tôma, và Ngài đã thương xót ông. Nhiều khi trong cuộc sống hôm nay, chúng ta cũng có thể có những lần yếu đuối giống như Tôma ngày xưa: nghi ngờ, cứng cỏi, có khi bỏ Chúa, xa Giáo Hội, đi tìm những điều khác ngoài Chúa, như đi coi thầy, xem bói, xin quẻ, tin vào những thế lực ma quỷ. Nhưng Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, vẫn kiên nhẫn chờ đợi, vẫn yêu thương và vẫn mời gọi chúng ta ăn năn tội, sám hối trở về với Ngài.

  1. Các bí tích là dấu chỉ của lòng thương xót Chúa.

Những cách thức mà Thiên Chúa tỏ lòng thương xót cho con người luôn luôn cụ thể và dễ hiểu. Ngài ban cho chúng ta những phương thế hữu hiệu để đón nhận lòng thương xót ấy, đó là các bí tích. Các bí tích chính là dấu chỉ của lòng thương xót Chúa dành cho con người. Chẳng hạn, Bí tích Thánh Thể là bí tích của tình yêu: Chúa ở lại với chúng ta và nuôi dưỡng chúng ta bằng chính Mình và Máu Ngài. Bí tích Hòa Giải là bí tích của lòng thương xót: Chúa tha thứ tội lỗi và chữa lành những vết thương của chúng ta.

Các bí tích chính là những “kênh” hay “máng” chuyển thông lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúa trao cho Giáo Hội sứ mạng gìn giữ và phân phát các ơn thánh khi cử hành các bí tích, để Giáo Hội là trung gian trần thế, trở thành nơi đón nhận, tha thứ và “nối kết” con người với Thiên Chúa.

Lời mời gọi:

Trong Chúa Nhật kính Lòng Chúa Thương Xót hôm nay, chúng ta được mời gọi cảm nhận rằng: lòng thương xót chính là cách Thiên Chúa yêu thương chúng ta, và các bí tích trong Giáo Hội là dấu chỉ cụ thể của lòng thương xót ấy. Tình yêu đó không phải là lý thuyết, nhưng là một tình yêu cụ thể, chạm đến đời sống chúng ta, tha thứ cho chúng ta và nuôi dưỡng chúng ta qua các bí tích.

Điều cần được suy nghĩ ở đây là:

Chúng ta có thật sự mở lòng đón nhận lòng thương xót Chúa không?

Chúng ta có sẵn lòng đến với Bí tích Thánh Thể và Hòa Giải để lãnh nhận ơn thánh của Chúa không?

Chúng ta có “chịu” để cho Chúa yêu, tha thứ và biến đổi mình không?

Hay nói cụ thể: Chúng ta có muốn để Chúa thương xót chúng ta không?

Và mỗi người chúng ta hôm nay có kinh nghiệm cá nhân nào để có thể chia sẻ với anh chị em, rằng mình đã được Chúa thương xót và đang thật sự sống trong bình an của Chúa không?

Xin Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Giêsu Phục Sinh đã ban cho các Tông Đồ ngày xưa, và cũng ban cho chúng ta hôm nay nữa, hướng dẫn mỗi người chúng ta, để chúng ta đến với Chúa Giêsu, và nhờ Chúa Giêsu, chúng ta được “kết nối” hay “nối mạng” về với Chúa Cha, hầu cảm nhận sâu đậm hơn lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Amen.

SUY NIỆM III

GẶP GỠ VỚI ĐẤNG PHỤC SINH

Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, O.P.

Chúc anh em được bình an

Câu chuyện xảy ra vào buổi chiều ngày Phục Sinh. Cho đến lúc này, cái chết đau thương của Ðức Giêsu vẫn là ám ảnh lớn nhất trong tâm trí các Tông đồ. Các ông buổn bã, thất vọng, và hơn thế nữa, các ông sợ người Do Thái trả thù. Các ông tụ họp nhau tại một căn phòng – có lẽ là căn phòng ở đó các ông đã cử hành bữa tiệc vượt qua. Như là để ôn lại những kỷ niệm thân thương, êm đềm nhất của Vị Thầy đã từng chia sẻ với các ông biết bao nhiêu buồn vui. Các ông tụ họp nhau như để sống lại những biến cố, những hình ảnh của Vị Thầy mà các ông đã gửi trọn niềm hy vọng, đã trao phó cả cuộc đời. Và các ông tụ họp bên nhau như là để tìm một sức mạnh, để cùng nhau chia sẻ nỗi sợ hãi đang đè nặng trên mỗi người.

Thình lình, tại căn phòng ấy, khi các cửa đều đóng kín, Ðức Giêsu đã xuất hiện giữa các môn đệ và ngỏ lời chào: “Chúc anh em được bình an”.

Thật là một lời chào ý nghĩa, phù hợp với hoàn cảnh bi đát của các môn đệ. Tuy vậy, lời chào được kể ra ba lần trong hai lần gặp gỡ không chỉ có mục đích trấn an các môn đệ. Lời chào ấy cũng không chỉ có tính cách xã giao, không chỉ là một lời cầu chúc, một lời hứa; trái lại, đó là một thực tại, một ân huệ.

Ngay sau lời chào, Ðức Giêsu đã cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn. Trước mặt các môn đệ là con người mà các ông đã tận mắt nhìn thấy đã chết trên thập giá, đã bị đâm thấu cạnh sườn. Trước mặt các môn đệ là con người đã từng sống với các ông, đã giảng dạy, đã làm nhiều phép lạ… Người hiện diện giữa các ông để trao tặng cho các ông ân sủng phong phú của mầu nhiệm Phục Sinh. Người đã trải qua cái chết, đã chiến thắng nó, và giờ đây, Người không còn bị giới hạn bởi những điều kiện không gian và thời gian. Người hiện diện ở bất cứ nơi nào, vào bất cứ lúc nào và trao tặng hồng ân của con người đã vượt qua cái chết.

Cũng ngay sau lời chào, Ðức Giêsu thổi hơi vào các môn đệ và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. Hình ảnh này nhắc lại câu chuyện xa xưa, khi Thiên Chúa sáng tạo con người. Lúc khởi đầu vũ trụ, Thiên Chúa đã thổi hơi vào mũi của Ađam và ban cho ông sự sống. Nhưng lần này, hơi thở Ðức Giêsu thổi trên các môn đệ là một ngôi vị, đó là Thánh Thần, mà một trong những hoa quả của Thánh Thần là bình an (x. Gl 5,22).

Rồi, liền sau đó, Ðức Giêsu trao quyền cho các môn đệ để các ông tiếp tục công trình của Người. Các ông đã được nhìn thấy Ðấng Phục Sinh, đã đón nhận bình an, đã lãnh nhận Thánh Thần, các ông sẽ phải ra đi để loan báo, để làm chứng, trước hết cho người môn đệ vắng mặt: ông Tôma.

Phúc thay những người không thấy mà tin

Khi ông Tôma vắng mặt, Ðấng Phục Sinh đã hiện ra với các môn đệ khác, đã cho các ông nhìn thấy những vết thương để minh chứng cho các ông hiểu Người đã sống lại, đã hoàn tất công trình cứu độ.

Khi các môn đệ nói với ông Tôma: “Chúng tôi đã được thấy Chúa”, ông đã không tin. Ông nghĩ rằng mình cũng phải có kinh nghiệm như các môn đệ kia: “Nếu tôi không thấy… nếu tôi không xỏ ngón tay…”. Không phải rằng Tôma không muốn tin, nhưng ông mong muốn có bằng chứng cụ thể, muốn có một kinh nghiệm trực tiếp, kinh nghiệm cá nhân về Ðức Giêsu. Chính vì thế, trong lần gặp gỡ thứ hai, Ðức Giêsu đã nói với ông Tôma: “Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa bàn tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy”.

Như vậy, đức tin Kitô giáo là một cuộc gặp gỡ cá nhân với Ðức Giêsu Kitô. Ðức tin đó không khởi đầu từ bất cứ điều gì khác, dù đó là Sách Thánh hay truyền thống tôn giáo, nhưng khởi đầu từ một con người sống động: Ðức Giêsu là Chúa.

Trong câu chuyện này, có thể các môn đệ đã đi trước Tôma một bước. Thế nhưng, để tin vào mầu nhiệm Phục Sinh, các ông vẫn cần có những chứng cớ. Nói cách khác, các ông không thể tin rằng Ðức Kitô đã phục sinh nếu như Người không hiện ra cho các ông. Các ông cần có kinh nghiệm cụ thể, hữu hình để rồi các ông sẽ là chứng nhân cho các thế hệ mai sau. Không nên hiểu câu nói của Ðức Giêsu với ông Tôma như là một lời trách móc, trái lại nên coi đó như một lời khuyến khích, động viên không phải ai cũng có diễm phúc được nhìn thấy Ðấng Phục Sinh, nhưng ai cũng phải tin vào Người, dựa trên lời chứng của những người đã nhìn thấy, tức là các môn đệ.

“Lạy Chúa, là Thiên Chúa của tôi”

Làm sao có được niềm tin chân thực khi mà ngay cả ông Tôma cũng chưa nhận ra Ðức Giêsu Phục Sinh đang hiện diện cách thể lý.

Nghi ngờ! Một thái độ quen thuộc.

Con người dường như luôn chìm trong thái độ nghi ngờ. Trong các biến chuyển của xã hội, trên khuôn mặt của đám đông dân chúng, dường như chẳng có gì là thần thiêng, chẳng có gì chứng tỏ sự hiện diện của Ðấng Phục Sinh.

Tuy vậy, chính đức tin cho chúng ta hiểu rằng Ðấng Phục Sinh vẫn đang hiện diện giữa nhân loại. Cần phải ghi nhớ điều này: hoạt động của Người càng âm thầm, thì hoạt động ấy càng mãnh liệt. Ðấng Phục Sinh vẫn đang hiện diện cách sâu xa và hiệu quả hơn khi Người mang thân xác con người. Ðó chính là điều người Kitô hữu phải khám phá, phải sống và loan báo.

Kinh nghiệm của môn đệ Tôma thực là gương mẫu cho chúng ta, đó là khao khát quyền năng của mầu nhiệm Phục Sinh thể hiện trong cuộc đời của mình cũng như của cộng đổng. Chúng ta không chỉ mong đụng chạm với Ðấng Phục Sinh cho bằng muốn Người bày tỏ sức mạnh của Người để giải thoát chúng ta khỏi những nghi ngờ. Chính lúc ấy, và chỉ vào lúc ấy, Ðức Giêsu mới thực sự là “Chúa, là Thiên Chúa của tôi”.

* * * * *

Ôi Ðức Kitô Phục Sinh,

Chúa là Ðấng Hằng Sống.

Nhờ Thánh Thần của Chúa Cha, Chúa đã phục sinh vinh hiển, xin đến và mở toang cánh cửa tâm hồn của mỗi người cũng như của cộng đoàn chúng con. Xin ánh sáng rạng ngời của Chúa xua tan bóng tối sợ hãi đang vây phủ chúng con.

Ôi Ðức Kitô Phục Sinh, Chúa là ân huệ đầu tiên,

là ân sủng cao quý nhất do Chúa Cha trao tặng, xin ban cho chúng con nhũng ân huệ có sức cứu độ: đó là niềm vui, sự tha thứ.

Xin nói với chúng con:

“Chúc anh em được bình an”.

Ước gì chiến thắng của Chúa trên sự dữ

giải thoát chúng con khỏi những chia rẽ và hận thù, và ban cho chúng con ơn cứu độ và niềm vui. Ôi Ðức Kitô vinh hiển, xin cho chúng con được chạm đến

những dấu hiệu cho thấy sự hiện diện mới của Chúa

đó là cộng đoàn Thánh Thể, là việc chia sẻ Bánh Thánh và Tình Thương để như môn đệ Tôma, chúng con đủ tin để tuyên xưng rằng:

“Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của tôi”.

SUY NIỆM IV

TỪ NGƯỜI ĐƯỢC THƯƠNG XÓT ĐẾN NGƯỜI  BIẾT XÓT THƯƠNG

jn.nvh

Có những cánh cửa trong đời người không khóa bằng then sắt, mà bằng nỗi sợ. Sợ bị xét đoán. Sợ phải đối diện với sự thật về chính mình. Sợ rằng nếu mọi chuyện được đưa ra ánh sáng, mình sẽ không còn gì để đứng vững.

Có một câu chuyện kể về một người lính bị đưa ra trước mặt vị tướng Robert E. Lee vì đã vi phạm quân luật. Anh run rẩy, sợ hãi. Vị tướng nói với anh: “Anh đừng sợ. Ở đây anh sẽ được công lý soi tỏ.” Người lính ngước lên và thưa: “Thưa ngài, đó chính là điều tôi sợ.” Một câu trả lời nghe rất lạ, nhưng lại rất thật. Bởi vì nếu chỉ là công lý, thì người ta biết mình sẽ bị kết án. Khi sự thật được phơi bày, con người không còn gì để bào chữa.

Có lẽ, đó cũng là tâm trạng của các môn đệ trong Tin Mừng hôm nay. Cánh cửa họ đóng kín không chỉ vì sợ bên ngoài, mà còn vì sợ bên trong. Sợ phải nhớ lại những gì đã xảy ra. Sợ phải đối diện với việc mình đã bỏ Thầy, đã không trung thành như đã hứa.

Và chính trong không gian đóng kín ấy, Chúa Giêsu đến. Ngài không gõ cửa, không chờ họ mở ra. Ngài bước vào. Điều đầu tiên Ngài nói không phải là một lời trách móc, nhưng là: “Bình an cho anh em.” Một lời chào nhẹ nhàng đủ làm dịu đi cả một tâm hồn đang xao động.

Nếu là con người, có lẽ chúng ta sẽ hỏi: “Tại sao các anh bỏ tôi?” Nhưng Chúa thì không. Ngài không nhắc lại lỗi lầm. Ngài không đòi giải thích. Ngài chỉ cho các ông thấy những vết thương. Những vết thương ấy vẫn còn đó, nhưng không còn là dấu tích của thất bại. Chúng trở thành bằng chứng của một tình yêu đã đi đến cùng.

Ở đây, chúng ta bắt đầu hiểu một điều rất quan trọng: Thiên Chúa không phủ nhận công lý, nhưng Ngài đi xa hơn công lý. Ngài mở ra một con đường khác, con đường của Lòng Thương Xót. Nếu chỉ là công lý, các môn đệ không còn hy vọng. Nhưng vì có Lòng Thương Xót, họ có thể bắt đầu lại.

Tám ngày sau, Chúa lại đến. Lần này có Tôma. Ông không có mặt trước đó, và ông không tin. Ông muốn thấy, muốn chạm, muốn chắc chắn. Có thể chúng ta dễ trách ông. Nhưng nếu thành thật, chúng ta sẽ nhận ra mình trong đó. Có những lúc chúng ta cũng nói với Chúa: nếu con không thấy, con không tin. Không phải vì chúng ta chống lại Chúa, nhưng vì chúng ta sợ tin rồi lại thất vọng.

Và Chúa Giêsu đã làm một điều vô cùng cảm động. Ngài quay lại, chỉ vì một người. Ngài không đứng từ xa mà nói. Ngài đến gần, và nói: “Hãy đặt tay vào đây.” Chúa không loại trừ sự yếu đuối. Ngài đi vào đó. Ngài không dập tắt một đức tin còn mong manh. Ngài kiên nhẫn làm cho nó lớn lên.

Tôma đã thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.” Đó không còn là một lời nghe lại từ người khác, mà là lời phát xuất từ một cuộc gặp gỡ. Đức tin không chỉ là hiểu biết, nhưng là kinh nghiệm. Khi con người thật sự chạm vào Lòng Thương Xót, họ sẽ thay đổi.

Nhưng Tin Mừng không dừng lại ở đó. Chúa nói: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” Nghĩa là, điều các môn đệ đã nhận, họ được mời gọi trao lại. Họ đã được tha thứ, thì họ cũng phải biết tha thứ. Họ đã được đón nhận, thì họ cũng phải biết đón nhận người khác.

Đây chính là đòi hỏi của đức tin khi đón nhận lòng thương xót của Chúa. Lòng Thương Xót không chỉ ở trong những việc to tát, mà ở trong những điều rất bình thường của đời sống. Một lời nói nhẹ nhàng thay vì cộc cằn. Một sự nhẫn nhịn thay vì hơn thua. Một sự tha thứ thay vì giữ lại vết thương. Một sự quan tâm âm thầm thay vì thờ ơ.

Có một điều rất đáng suy nghĩ: người ta có thể quên những gì chúng ta nói, nhưng họ sẽ nhớ cách chúng ta đối xử với họ. Và chính trong những điều rất nhỏ ấy, Lòng Thương Xót trở nên hữu hình.

Có khi chúng ta nghĩ rằng phải làm điều gì đó thật nổi bật mới là sống đức tin. Nhưng có lẽ điều Chúa chờ đợi lại đơn sơ hơn nhiều: sống sao để khi người khác gặp mình, họ thấy lòng nhẹ hơn. Không thấy bị xét đoán, nhưng được cảm thông. Không thấy xa cách, nhưng được đón nhận.

Khi đó, dù chúng ta không nói nhiều về Chúa, người khác vẫn có thể nhận ra Ngài.

Xin cho mỗi người chúng ta, khi đã được chạm vào Lòng Thương Xót của Chúa, cũng biết trở thành một dấu chỉ của Lòng Thương Xót ấy giữa đời. Không cần phải rực rỡ. Không cần phải nổi bật. Chỉ cần chân thành và trung tín.

Để rồi, qua những điều rất bình thường của cuộc sống, người khác có thể nhận ra một điều không hề bình thường: Thiên Chúa vẫn đang hiện diện, và Ngài vẫn giàu lòng thương xót. Amen.

Gia Vị Cho Bài Giảng Lễ Chúa Nhật 2 Phục Sinh

Nguồn: giaophancantho.org

“Chúng ta là những người thích nghe những câu chuyện về đời sống hằng ngày cũng như về đời sốngđức tin…Các câu chuyện đi sâu vào những nơi kín ẩn nhất trong chúng ta và mở ra cho chúng ta những cách thế mới và thân tình để hiểu nhau” – Nuala Kenny

 LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG HÀNH ĐỘNG

Tạp chí TIME năm 1984 đã in hình một trang bìa rất đáng chú ý: trong một phòng giam có hai người đàn ông ngồi trên hai chiếc ghế xếp bằng kim loại. Chàng trai trẻ mặc một chiếc áo len cổ lọ màu xanh, quần jeans xanh và giày màu trắng. Người đàn ông lớn tuổi mặc một chiếc áo choàng trắng đội một chiếc mũ sọ màu trắng trên đầu. Họ ngồi đối mặt với nhau, cận cảnh và rất riêng tư. Họ nói nhỏ để người khác không nghe thấy cuộc trò chuyện. Người thanh niên đó tên là Mehmet Ali Agca, kẻ ám sát Giáo hoàng (hắn đã bắn và làm ngài bị thương vào ngày 13 tháng 5 năm 1981); người đàn ông kia là Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, nạn nhân chủ mưu của tên ám sát. Đức Giáo hoàng nắm lấy bàn tay đã cầm khẩu súng mà viên đạn của nó đã găm vào cơ thể của ngài. Đây là một biểu tượng sống động của lòng thương xót. Sự tha thứ của Đức Gioan Phaolô II mang đậm dấu ấn tình yêu Kitô giáo. Hành động của ngài với Ali Agca đã nói thay cho hàng nghìn lời diễn đạt. Ngài ôm lấy kẻ thù của mình và xin ân xá cho anh ta. Vào cuối cuộc gặp mặt kéo dài 20 phút của họ, Ali Agca đã cầm tay Đức Giáo hoàng và đặt lên trán của mình như một biểu hiệu của sự tôn kính. Đức Giáo hoàng dịu dàng bắt tay anh. Khi rời phòng giam, Đức Giáo hoàng nói: “Những gì chúng tôi đã nói với nhau phải được giữ bí mật. Tôi đã nói chuyện với anh ấy như một người anh em mà tôi đã tha thứ và anh là người đã hoàn toàn tin tưởng tôi”.

* Đây là một mẫu gương thể hiện Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Đó chính là Lòng Thương Xót mà thánh Faustina đã cảm nghiệm và chia sẻ với chúng ta.

  1. “VẬY THÌ TÔI SẼ THƯƠNG XÓT”

Hoàng đế Napoléon đã tỏ ra rất xúc động trước lời cầu xin ân xá của người mẹ cho đứa con trai là quân nhân của bà. Tuy nhiên, Hoàng đế nói rằng vì đây là lần phạm tội nặng thứ hai của người lính, nên công lý đòi hỏi anh ta phải chết. Bà mẹ van nài: “Tôi không yêu cầu công lý, tôi xin lòng thương xót.” Nhưng hoàng đế nói: “Nó không đáng được thương xót!” Bà mẹ kêu lên: “Thưa ngài, sẽ không cần  lòng thương xót vì nó đáng bị như vậy, nhưng lòng thương xót là tất cả những gì tôi cầu xin với ngài.” Vẻ đau khổ và cách biện luận rạch ròi của người mẹ đã thúc đẩy Napoléon trả lời: “Vậy thì, tôi sẽ thương xót.”

* Chúa Nhật Thứ Hai của Mùa Phục Sinh mời gọi chúng ta suy ngẫm về tình yêu thương và lòng thương xót vô hạn của Thiên Chúa dành cho chúng ta, như được trình bày trong Kinh Thánh và như Chúa Giêsu đã sống, giảng dạy, cũng như thực hành qua sứ vụ của Người.

  1. THƯA ÔNG ĐÓ LÀ ĐIỀU TÔI SỢ

Có một câu chuyện về một người lính nọ được đưa đến trước mặt đại tướng Robert E. Lee. Anh bị buộc tội đã hành động vi phạm quân luật, người lính run rẩy sợ sệt. Vị tướng nói với anh ta: “Anh đừng sợ. Ở đây bạn sẽ được công lý soi tỏ”. Người lính nhìn viên tướng và nói: “Thưa ngài, đó chính là điều tôi sợ.” Giống như người lính đó, ông Phêrô có lý do để run sợ. Ông đã khoe khoang về lòng dũng cảm của mình, rằng ông sẽ luôn sát cánh và bảo vệ Chúa Giêsu. Tuy nhiên, khi Chúa Giêsu cần ông nhất, thì ông đã bỏ rơi Chúa. Có lẽ người ta có thể tha thứ cho ông vì ông đã bị cơn thèm ngủ đè nặng. Nhưng sau đó với tất cả ý thức, ông đã chối bỏ Chúa Giêsu ba lần, với cùng một lời khẳng định: “Tôi không biết người ấy. Một tảng đá mà như thế! Theo công lý nghiêm minh, Phêrô lẽ ra phải bị trừng phạt, ít nhất, bị tước bỏ tư cách người đứng đầu Giáo hội. Tuy nhiên, qua cuộc khổ nạn, Chúa Kitô đã mở ra một công lý sâu xa hơn, vượt qua những khuôn khổ cố hữu của con người. Đó là những gì chúng ta sẽ khám phá và trải nghiệm về Lòng Chúa Thương Xót này.

  1. NÂNG CAO TINH THẦN CHO NHAU

Bạn đã bao giờ nhìn thấy đàn ngỗng bay theo hình chữ V chưa? Đó là một điều tuyệt vời khi người ta tìm hiểu để biết rằng cấu hình đó là điều hết sức cần thiết để những con ngỗng có thể sống còn. Nếu chú ý lắng nghe, chúng ta có thể nhận thấy tiếng đập cánh của chúng đồng loạt bật lên tiếng rít mạnh trong không khí. Và đó chính là bí mật về sức mạnh của chúng: ngỗng đầu đàn cắt ngang sức cản của không khí, tạo ra lực đẩy giúp cho những con chim phía sau nó mất ít năng lượng hơn. Đổi lại, việc đồng loạt vỗ cánh giúp những con chim phía sau bay dễ dàng hơn, v.v. Mỗi con chim sẽ lần lượt làm đầu đàn. Những con bị mệt thì dạt ra rìa của chữ V để nghỉ, và những con còn lại lao về phía điểm đầu của chữ V để dồn thúc bầy ngỗng bay tiếp. Nếu một con ngỗng trở nên quá kiệt sức hoặc bị bệnh và phải bỏ ra khỏi đàn, nó không bao giờ bị bỏ rơi. Một thành viên mạnh hơn trong bầy sẽ theo con yếu hơn đến chỗ nó nghỉ và đợi cho đến khi con chim đủ khỏe để bay trở lại. Cùng nhau hợp tác thành đàn, ngỗng có thể bay ở cự ly xa hơn 71%, với công việc ít hơn tới 60% năng lượng.

  1. CHỮA BỆNH CHO NỖI BUỒN

Có một câu chuyện cổ của Trung Quốc về một người phụ nữ có đứa con trai duy nhất đã chết. Trong nỗi đau buồn tột độ, bà đến gặp một vị đạo sư và nói: “Lời cầu nguyện nào, câu thần chú huyền diệu nào có thể làm cho con trai tôi sống lại được?” Thay vì đuổi bà ấy đi hoặc cố gắng giải thích cho bà ấy, đạo sĩ nói: “Bà hãy đi tìm cho tôi một hạt cải từ một ngôi nhà chưa bao giờ biết đến nỗi buồn. Tôi sẽ dùng để xua đuổi nỗi buồn của bà ra khỏi cuộc sống”. Người phụ nữ tất tả đi ngay để tìm hạt mù tạt kỳ diệu đó. Trước tiên, bà ấy đến một ngôi biệt thự lộng lẫy, gõ cửa và nói: “Tôi đang tìm một ngôi nhà chưa bao giờ biết đến nỗi buồn. Đây có phải là một nơi như vậy không? Điều này rất quan trọng đối với tôi”. Họ nói với bà ấy: “Chắc bà đã đến nhầm chỗ rồi!” Và họ bắt đầu mô tả tất cả những điều bi thảm gần đây đã xảy ra với gia đình họ. Người phụ nữ tự nhủ: “Ai có thể giúp đỡ những người nghèo khổ, bất hạnh này hơn tôi, những người cũng gặp bất hạnh như tôi?” Bà ta ở lại một thời gian để an ủi họ, rồi lại tiếp tục đi tìm một căn nhà chưa bao giờ biết đến nỗi buồn. Nhưng ở bất cứ nơi nào bà ấy đến, từ những căn nhà nhỏ tồi tàn đến những nơi nơi sang trọng khác, bà ấy đều nghe thấy hết những chuyện bất hạnh này đến nỗi buồn khác. Mỗi lần như vậy bà lại tìm cách lan tỏa những năng lượng tích cực để xua tan nỗi đau của người khác, đến nỗi cuối cùng bà ấy đã quên đi cuộc tìm kiếm hạt cải kỳ diệu, và cũng quên luôn nỗi buồn trong việc mất đứa con yêu dấu.

  1. DỤC TỐC BẤT ĐẠT

Một người đàn ông nhìn thấy một tổ kén của một con bướm. Một lát sau, anh ta thấy có một lỗ nhỏ xuất hiện. Anh ngồi và quan sát con bướm trong nhiều giờ và thấy nó cố gắng ép cơ thể mình chui qua cái lỗ nhỏ đó. Nhưng dường như không tiến thêm được chút nào, như thể nó đã bò xa nhất có thể rồi. Vì vậy, người đàn ông quyết định giúp nó, anh lấy một cái kéo và cắt bỏ phần còn lại của tổ kén. Con bướm sau đó nhô ra khỏi tổ một cách dễ dàng. Nhưng nó có một cơ thể sưng tấy và đôi cánh nhỏ, teo tóp. Người đàn ông tiếp tục quan sát con bướm vì anh ta mong đợi rằng, bất cứ lúc nào, đôi cánh sẽ dang rộng và nở ra để có thể nâng cơ thể của nó lên. Nhưng cả hai điều đều không xảy ra! Thật sự, con bướm đã phải dành phần đời còn lại của mình để bò xung quanh với cơ thể sưng tấy và đôi cánh teo tóp. Chứ không bao giờ có thể bay được. Điều mà người đàn ông, với lòng tốt và sự vội vàng của mình, đã không hiểu là cái tổ kén gò bó đó và sự nỗ lực chui ra là cần thiết đối với con bướm. Chui qua lỗ nhỏ là cách mà quy luật tự nhiên đã sắp đặt để ép một chất lỏng từ cơ thể nó vào đôi cánh, tạo cho nó có thể sẵn sàng cho chuyến bay khi nó thoát ra khỏi kén.

Đôi khi những nỗ lực và phấn đấu chính là thứ chúng ta cần trong cuộc sống. Nếu Chúa cho chúng ta đi qua cuộc đời mình mà không gặp bất kỳ trở ngại nào, điều đó có thể khiến chúng ta tê liệt. Chúng ta sẽ không thể mạnh mẽ như chúng ta có thể; chúng ta không bao giờ có thể bay! Vì vậy, những thử thách trong cuộc sống có thể là một dấu chỉ của lòng Chúa thương chúng ta.

  1. MỌI SỰ LÀM CỦA CHUNG

Theo sách Công vụ Tông đồ những Kitô hữu đầu tiên đều “một lòng một ý”. Họ chia sẻ tài sản của mình cho nhau, để không ai thiếu thốn. Một số thậm chí đã bán đồ đạc của họ và gom vào quỹ chung để chu cấp cho mọi người trong cộng đoàn. Tinh thần bác ái cao quý này không tồn tại lâu lắm, bởi vì trong những năm sau đó, những đấng lập ra các dòng tu đã phải khôi phục lại tình trạng sở hữu chung như một phần của luật dòng của họ. Vì vậy, khi thánh Bênêđictô (Biển Đức) viết điều luật cho các tu sĩ của mình vào thế kỷ thứ sáu, ngài đã ra lệnh: “Hãy để mọi sự làm của chung cho tất cả mọi người.” Con người vốn mang bản tính sở hữu. Do đó không phải tất cả các tu sĩ Bênêđictô đều sống theo lý tưởng nghèo khó cá nhân. Một lần kia một tu sĩ đã đi giảng tĩnh tâm cho một tu viện nữ gần đó. Để bày tỏ lòng cảm ơn, các nữ tu đã trao cho thầy dòng vài chiếc khăn tay. Mặc dù tu luật ghi rằng không một tu sĩ nào được nhận bất cứ thứ gì mà không qua tu viện trưởng, nhưng thầy dòng này quyết định giữ món quà nhỏ lại cho riêng mình mà không thông qua bề trên. Anh chỉ đơn giản là nhét chiếc khăn tay vào trong tu phục của mình. Nhưng việc này không bị bỏ qua. Khi anh trở lại tu viện, bề trên Bênêđictô đã mắng anh: “Làm sao mà ma quỷ lại tìm được đường đi vào tâm hồn anh như thế?” Thầy dòng này vô cùng bối rối, vì anh ta đã quên chiếc khăn tay mình đã giữ lại. Nhưng lỗi của anh đã bị tiết lộ cho tu viện trưởng Bênêđictô. Ngài nói mạnh: “Có phải vì tôi không có mặt, nên anh mới nhận những chiếc khăn tay đó phải không?” Ngay lập tức vị tu sĩ nhận biết mình có lỗi, anh quỳ xuống trước vị thánh, xin ngài tha thứ và trao món quà lại cho bề trên.

Khi nói về cộng đoàn tín hữu đầu tiên đây là một nét son của họ, nhưng chắc chắn mỗi thành viên phải phấn đấu rất nhiều mới có thể duy trì được lí tưởng ấy. Tham vọng của cộng sản nguyên thủy: “các tận sở năng, các mãn sở nhu” (làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu) đã hoàn toàn thất bại, và bị coi là hão huyền!

Linh mục Giuse Ngô Quang Trung sưu tầm

SUY NIỆM V

CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH ĐANG SỐNG GIỮA CHÚNG TA

Tuần 2 Phục Sinh (Hội An 12/4/2026)

Lm. Giuse Nguyễn Văn Thú

Sau khi Chúa Giê-su chịu chết, các môn đệ co cụm lại trong nhà đóng kín cửa. Điều đó dễ hiểu, vì họ sợ người Do Thái lùng bắt và giết chết. Thế nhưng, một tuần đã trôi qua, lời “Alleluia” đã cất lên giữa nghịch cảnh cuộc đời, tin mừng loan báo mồ trống và Phê-rô cùng Gioan đã chứng thực không thấy xác Chúa trong thế giới của kẻ chết, Mađalêna làm chứng: “Tôi đã thấy Chúa,” thế mà cửa nhà của các môn đệ vẫn khóa kín. Tại sao biến cố Chúa sống lại không làm thay đổi cuộc đời của các môn đệ? Riêng chúng ta, Chúa phục sinh có làm cho đời sống chúng ta sống khác không?

  1. Chúa Giê-su không chỉ đã sống lại

Thánh Gioan cho biết, trong tuần đầu tiên này không có chút thay đổi nào trong đời sống các môn đệ Chúa. Không chỉ vì mồ trống, nên họ buồn rầu và nghi ngờ vì có người đã lấy trộm xác Chúa, mà còn sợ hãi người Do Thái đang lùng bắt những ai là môn đệ và từng đi theo Chúa Giê-su. Một vài người cho rằng các môn đệ còn xấu hổ với Chúa Giê-su, bởi các môn đệ từng bán Chúa, chối Chúa và bỏ Chúa mà chạy trốn, nên muốn tránh mặt Chúa. Mặc cảm phản bội Thầy của mình làm sao xóa mờ trong ký ức được! Có lẽ còn nhiều lý do riêng trong từng người khiến ai nấy đều đồng lòng khóa chặt cửa lại. Quả thật, Chúa đã sống lại, nhưng chưa chạm đến cuộc đời họ, không có gì biến đổi trong đời họ.

Còn chúng ta thì sao? Chúng ta không thể phủ nhận sinh hoạt tuần thánh và đại lễ Chúa phục sinh trong các giáo xứ rất long trọng, ai nấy nỗ lực trình bày biến cố Chúa sống lại để thu hút sự quan tâm của mọi người, cả cho người ngoài Ki-tô giáo. Chúng ta vui mừng rất đông tín hữu tham dự thật sốt sắng trong suốt thời gian dài lễ nghi và thánh lễ trong những cử hành thánh thiện đó. Đại lễ Chúa phục sinh là một sự kiện, một biến cố lớn trong đời sống xã hội và Ki-tô giáo. Nhưng sau lễ phục sinh thì sao? Niềm vui thánh thiện trong lòng mỗi người có còn không hay không còn dấu vết gì? Tôi tự hỏi, đã một tuần trôi qua, biến cố Chúa phục sinh mang lại cho tôi điều gì? Có làm đời sống đức tin của tôi khác đi không? Trước đây tôi lười biếng thờ phượng Chúa, qua lễ Phục Sinh tôi cũng vậy sao? Trước đây đời sống đức tin rất mờ nhạt trong gia đình tôi và vẫn như các môn đệ ru rú sau chiếc cửa khóa chặt, nay sau lễ phục sinh rồi mà bầu khí gia đình tôi vẫn là bầu khí trong huyệt mộ sao? Bầu khí và đời sống chúng ta vẫn y nguyên như trước phục sinh sao? Dường như chúng ta cũng như các môn đệ vẫn đóng kín cửa như một tuần trước, vẫn dậm chân tại chỗ trong sợ hãi và rã rời. Tại sao Chúa đã sống lại rồi, còn chúng ta vẫn chưa biến đổi gì?

  1. Chúa Giê-su đang sống với chúng ta

Theo Đức Bênêđíctô, “tâm điểm cho đời sống Ki-tô hữu trước hết là cuộc gặp gỡ Chúa Giê-su Ki-tô.” Điều đó có nghĩa, mọi sự kiện hay biến cố xảy ra, dù ấn tượng đến mức nào cũng sẽ qua đi, nhưng mối tương quan thắm thiết không dễ qua đi. Trong tình yêu, đi là nhớ, xa càng thương, sống là sống với, không gian không là ngăn trở, chỉ lòng người mới quyết định cách ngăn hay không.

Tảng đá lấp cửa mồ không cản trở được tình yêu của Chúa Giê-su dành cho chúng ta. Sự chết không thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Giê-su phục sinh. Tình yêu của Chúa Giê-su mạnh hơn sự chết. Ngài đã sống lại và đến với các môn đệ, ở giữa các môn đệ. Với tình yêu nơi Ngài, Chúa Giê-su không thể xa cách con người. Chiếc cửa đã bị các môn đệ khóa chặt không ngăn được Chúa Giê-su phục sinh đến ở giữa các môn đệ và đem tình yêu cho các môn đệ. Trong một đoạn Phúc Âm ngắn hôm nay, Chúa Giê-su đã ba lần nói với các môn đệ: “Bình an cho các con.” Bình an theo nghĩa Thánh Kinh là sự sống tràn đầy chứ không chỉ là bình an nội tâm. Bình an này chính là quà tặng của Chúa Giê-su phục sinh và là chính Ngài. Có Chúa có bình an. Thánh Augustinô còn giải thích, chúng ta đón nhận được bình an của Chúa khi chúng ta hướng tình yêu của mình tới Thiên Chúa. Như vậy, khi Chúa ban bình an của Ngài cho chúng ta, Chúa cũng muốn chúng ta đáp lại bằng chính tình yêu của chúng ta dành cho Ngài. Chính tình yêu này không để cho Chúa Giê-su phục sinh trở thành nhân vật quá khứ; trái lại, Ngài trở nên Đấng đang sống với chúng ta và chúng ta yêu thương Ngài cũng với tình yêu không bao giờ ngăn cách.

Vậy, sở dĩ cá môn đệ chưa biến đổi dù đã nghe, đã thấy Chúa sống lại, sở dĩ chúng ta trở lại tình trạng nguội lạnh trước lễ phục sinh, cũng vì chúng ta mừng biến cố phục sinh, mà chưa nhận ra Chúa Giê-su phục sinh đang sống với chúng ta, nên chúng ta chưa có mối tương quan thân thiết nào với Ngài. Nếu tôi nhận ra Chúa phục sinh đang sống với tôi, tôi không chỉ hướng tâm hồn về với Ngài, không chỉ cầu nguyện với Ngài mà còn siêng năng chạy đến với Ngài, gặp Ngài và bày tỏ tình yêu đối với Ngài, Đấng đang sống với tôi trong thánh lễ. Nếu đời tôi đã gặp Chúa Giê-su phục sinh và đang sống với Chúa Giê-su phục sinh, không thể nào có tình trạng lễ phục sinh thì đông đảo, sau đó lại ít đi, đến nỗi nhìn vào cộng đoàn tụ họp không thể nhận ra đó là đoàn người sống lại. Niềm tin Chúa Giê-su phục sinh đang sống là niềm tin Chúa hiện diện ngay cả trong thế giới hững hờ với Ngài, cả trong công việc của tôi, cả trong lúc tôi rối bời vì thử thách.

Sự hiện diện của Chúa Giê-su phục sinh công bố cho chúng ta điều lạ thường này: Thiên Chúa không ở đâu xa cả, Ngài ở gần với chúng ta trong bí tích Thánh Thể, Ngài ở đó để chúng ta chạm được vào Ngài, đón nhận Ngài và chuyện trò với Ngài. Thánh Thể chính là Thân Mình Chúa Giê-su phục sinh, Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là người, đang ở với chúng ta. Chính nhờ đức tin vào Chúa Giê-su phục sinh đang sống, đời sống chúng ta được biến đổi như các môn đệ sẽ mở cửa và lao ra loan báo Tin Mừng.

Bài viết được lấy từ website http://giaophandanang.org. Đọc bài viết gốc tại link sau: Chúa Nhật II Phục Sinh Năm A – Kính Lòng Chúa Thương Xót

Tin Tức

Chúa Nhật II Phục Sinh Năm A – Kính Lòng Chúa Thương Xót

By Gioan Nguyễn Văn Hoàng

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH. CUỐI TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH.

KÍNH LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT.

Cv 2,42-47; 1Pr 1,3-9; Ga 20,19-31

Giáo xứ Cẩm Lệ Chầu Thánh Thể .

GIÁO HUẤN SỐ 20

Tông huấn NIỀM VUI CỦA TIN MỪNG (tiếp theo)

 “Giáo xứ không phải là một cơ chế lỗi thời; lý do chính là nó có tính linh động cao, nó có thể tiếp thu những tình huống khá khác biệt tuỳ theo sự cởi mở và óc sáng tạo truyền giáo của người mục tử và của cộng đoàn. Chắc chắn giáo xứ không phải là cơ chế duy nhất loan báo Tin Mừng, nhưng nếu nó tỏ ra có khả năng tự canh tân và thích nghi không ngừng, nó vẫn tiếp tục là “Hội Thánh sống giữa các gia đình của các con trai con gái mình”. Điều này có nghĩa là giáo xứ thực sự tiếp xúc với các gia đình và các cuộc đời của những con người, và không trở thành một cơ chế cách ly với con người hay một nhóm khép kín gồm một ít người được tuyển chọn. Giáo xứ là sự hiện diện của Hội Thánh tại một địa phương nhất định, một môi trường để nghe Lời Chúa, để tăng trưởng trong đời sống Kitô hữu, để đối thoại, rao giảng, làm việc bác ái, thờ phượng và mừng lễ. Trong mọi hoạt động của mình, giáo xứ cổ vũ và huấn luyện các thành viên của mình để trở thành những người loan báo Tin Mừng. Giáo xứ là một cộng đoàn của các cộng đoàn, một thánh điện để những người khát nước đến uống dọc đường, và một trung tâm thường xuyên vươn ra truyền giáo. Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng lời kêu gọi duyệt lại và canh tân các giáo xứ của chúng ta vẫn chưa đủ sức đưa các giáo xứ đến gần người dân hơn, biến các giáo xứ trở thành những môi trường sống hiệp thông và tham dự, và làm cho giáo xứ trở nên hoàn toàn hướng về truyền giáo”. (Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 28).

LƯU Ý: Các ngày trong tuần Mùa Phục Sinh:

a. Không được cử hành lễ cầu hồn hằng ngày (IM 381).

b. Chỉ được cử hành các lễ tùy nhu cầu hay ngoại lịch, nếu thật sự có nhu cầu và lợi ích mục vụ đòi hỏi (IM 376).

c. Được cử hành các lễ nhớ không bắt buộc về vị thánh có tên trong lịch hay trong sổ bộ các thánh ngày đó (IM 355b).

PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

(Cv 2,42-47; 1Pr 1,3-9; Ga 20,19-31)

Bài Ðọc I: Cv 2, 42-47

“Tất cả mọi kẻ tin, đều sống hoà hợp với nhau và để mọi sự làm của chung”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Khi ấy, các anh em bền bỉ tham dự những buổi giáo lý của các Tông đồ, việc thông hiệp huynh đệ, việc bẻ bánh và cầu nguyện . Mọi người đều có lòng kính sợ. Vì các Tông đồ làm nhiều việc phi thường và nhiều phép lạ tại Giêrusalem, nên mọi người đều sợ hãi. Tất cả mọi kẻ tin đều sống hoà hợp với nhau và để mọi sự làm của chung. Họ bán tài sản gia nghiệp, rồi phân phát cho mọi người tuỳ nhu cầu từng người. Hằng ngày họ hợp nhất một lòng một ý cùng nhau ở trong đền thờ, bẻ bánh ở nhà, họ dùng bữa cách vui vẻ đơn sơ; họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân mến chuộng. Hằng ngày Chúa cho gia tăng số người được cứu rỗi.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 117, 2-4. 13-15. 22-24

Ðáp: Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người muôn thuở”. Hỡi nhà Aaron, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người muôn thuở”. Hỡi những người tôn sợ Chúa, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người muôn thuở”.

Xướng: Tôi đã bị đẩy, bị xô cho ngã xuống, nhưng Chúa đã phù trợ tôi. Chúa là sức mạnh, là dũng lực của tôi, và Người trở nên Ðấng cứu độ tôi. Tiếng reo mừng và chiến thắng vang lên trong cư xá những kẻ hiền nhân. Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt.

Xướng: Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó.

 

Bài Ðọc II: 1 Pr 1, 3-9

“Nhờ việc Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, vì lòng từ bi cao cả, nhờ việc Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống, được hưởng gia nghiệp không hư nát, tinh tuyền, không suy tàn, dành để cho anh em trên trời. Anh em được bảo vệ trong quyền năng của Thiên Chúa, nhờ tin vào sự cứu độ đã được mạc khải trong thời sau hết. Lúc đó anh em sẽ vui mừng, tuy bây giờ anh em phải sầu khổ một ít lâu giữa trăm chiều thử thách, để đức tin anh em được tôi luyện, nên quý hơn vàng được thử lửa bội phần, nhờ đó, anh em được ngợi khen, vinh quang và vinh dự khi Ðức Giêsu Kitô hiện đến. Anh em yêu mến Ngài, dù không thấy Ngài, và anh em tin Ngài, dù bây giờ anh em cũng không thấy Ngài; bởi anh em tin, anh em sẽ được vui mừng vinh quang khôn tả, vì chắc rằng anh em đạt tới cứu cánh của đức tin là phần rỗi linh hồn.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”. – Alleluia.

 

PHÚC ÂM : Ga 20, 19-31

“Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: “Bình an cho các con”. Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: “Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại”. Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Ðiđymô, không cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: “Chúng tôi đã xem thấy Chúa”. Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin”.

Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: “Bình an cho các con”. Ðoạn Người nói với Tôma: “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin”. Tôma thưa rằng: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” Chúa Giêsu nói với ông: “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”.

Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.

Ðó là lời Chúa.

 SUY NIỆM I

Lm.Giuse Nguyễn Quốc Quang

BÌNH AN CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA PHỤC SINH

Chúng ta vừa mới nghe Tin Mừng Gioan thuật lại rõ ràng rằng chiều ngày thứ nhất trong tuần, tức 8 ngày sau khi Chúa Giêsu phục sinh, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, tại sao đóng kín? Vì sợ? Tại sao sợ, sợ cái gì? Sợ người Do thái đã giết Thầy được rồi thì tới mình cũng sẽ giết nếu đi ra rao giảng Tin Mừng. Dù lúc này, các ông đã gặp Chúa phục sinh rồi, biết Chúa sống lại rõ ràng rồi mà, tại sao không tin Chúa đã chiến thắng toàn diện, tại sao các ông không mạnh mẽ làm chứng cho Chúa. Vì nỗi sợ đau khổ, sợ chết làm cho các ông quên mất Chúa Giêsu phục sinh toàn năng, mất lòng tin vào Chúa phục sinh đã chiến thắng đau khổ, tử thần thì Ngài cũng làm cho mình chiến thắng đau khổ và thần chết! Vì thế các ông luôn bất an, đóng kín cửa lại hết. Thế rồi, Tin Mừng Gioan không dừng ở cửa đóng then cài mà đột nhiên Ngài viết: “Đức Giêsu đến và đứng giữa các ông”. Cửa đóng kín Chúa đi qua cửa nào mà vào được? Thánh Gioan muốn khẳng định rằng Chúa Giêsu phục sinh và thân xác Ngài vinh hiển, không lệ thuộc vào không gian vật chất này nữa, Ngài hiện diện khắp mọi nơi, Ngài hiện diện trước mặt và ở giữa các ông rồi nhưng vì sợ quá mà không nhìn ta Chúa đấy thôi. Thánh Gioan mô tả Chúa Giêsu phục sinh đứng giữa các ông chứ không đứng một bên, ở giữa có nghĩa Chúa Giêsu là trung tâm để mọi người nhìn thấy Chúa Giêsu hằng sống vẫn thương xót và hiệp nhất các ông nên một với Ngài và Chúa Cha. Ngài ở giữa cộng đoàn nhờ Ngài mà mọi người được sống và sống dồi dào. Vì thế, Chúa Giêsu nói: “ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20). Chúa Giêsu ở gữa họ để làm gì?

Để ban bình an phục sinh của Chúa cho các Tông đồ và cho cả chúng ta hôm nay.  Thánh Gioan kể Chúa Giêsu đã đến đứng ở các ông và nói: “Bình an cho các con”. Đây không phải lời chào xã giao, mà lời chúc phúc, lời ban bình an yêu thương thật sự. Chúng ta nhớ cũng trong Tin Mừng Gioan chương 14 câu 27, Đức Giêsu đã nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban bình an của Thầy cho anh em; Thầy ban không như thế gian ban”. Và cũng trong Tin Mừng Gioan chương 16 câu 33, Chúa Giêsu nói: “Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian”. Vâng, lúc này trong phòng kín đây, lời hứa, lời chúc và lời ban ấy trở thành hiện thực. Điều đáng chú ý rằng bình an được công bố trước khi Chúa cho các môn đệ nhìn thấy các dấu tích của cuộc thương khó, dấu tích của lòng Chúa thương xót, nghĩa là bình an không dựa trên việc họ đã hiểu, nhưng trên việc Ngài hiện diện thật sự sau khi phục sinh.

Tuy nhiên, lời chúc bình an, lời ban bình an thương xót cho các ông và chúng ta không trở thành một lời trấn an rỗng, lời nói suông mà Ngài làm một cử chỉ quyết định: “Ngài cho họ thấy tay và cạnh sườn của Ngài”, tức Ngài cho các ông thấy những dấu tích của lòng thương xót. Đây không chỉ là hành động trình bày bằng chứng, nhưng là hành động mặc khải lòng thương xót của Thiên Chúa đối cho con người trọn vẹn bằng việc đã trải mọi sự trên thế gian này dù đó là đau khổ và cái chết. Ngài sống lại không xóa dấu vết của đau khổ, đòn vọt, dấu đinh thập giá, lưỡi đòng. Trái lại, Ngài giữ lại các dấu tích của cuộc thương khó như phần cấu thành căn tính của mình đó là thương xót con người đến cùng.

Cho nên, khi hiện ra, Chúa Giêsu không trách móc các môn đệ vì đã bỏ trốn, chối Thầy. Ngài chỉ cho họ xem các vết thương, cũng là suối nguồn lòng thương xót. Chính từ đó, bình an được tuôn đổ. Vì vậy, bình an thật không đến từ sự hoàn hảo của chúng ta, nhưng đến từ việc được Chúa tha thứ và yêu thương. Nhiều khi chúng ta mất bình an vì tội lỗi, vì yếu đuối, vì quá khứ nhưng Chúa Phục Sinh vẫn đến và nói: “Bình an cho con” – nghĩa là: Cha tha thứ cho con, Cha vẫn yêu con. Cho nên, Thánh Phêrô trong bài đọc II khẳng định rằng: “Anh em vui mừng, dù còn phải chịu thử thách”. Người Kitô hữu không phải là người không có đau khổ, nhưng là người có niềm vui giữa đau khổ, vì biết rằng Chúa đang sống và đồng hành và ban muôn ơn cho chúng ta khi chúng ta chạy đến lòng thương Chúa bằng những việc mà Sách Công vụ Tông đồ bài đọc 1 mô tả cộng đoàn tiên khởi đã làm: (1)Chuyên cần nghe Lời Chúa, (2) Hiệp thông với nhau, (3) tham dự lễ Bẻ bánh và cầu nguyện và cuối cùng là sống yêu thương, chia sẻ.

Vâng, Chúa Giêsu phục sinh cũng đang đến với mỗi người chúng ta, nhất là trong những lúc: lo âu, tội lỗi và mất phương hướng. Và Ngài vẫn nói với chúng ta như nói với các Tông đồ xưa: “Bình an cho con!” Xin cho chúng ta biết chạy đến với lòng thương xót Chúa, mở lòng ra để đón nhận lòng thương xót của Chúa vào trong tâm hồn và cuộc đời ta, nhờ đó: Tâm hồn được bình an, đức tin được củng cố và đời sống trở nên chứng tá sống động cho người khác. Alleluia.

SUY NIỆM II

Lòng Thương Xót Chúa là biểu lộ của tình yêu Thiên Chúa

Lm. Step Võ Ngọc Đính

Lễ Lòng Chúa Thương Xót mà Giáo Hội mừng kính hôm nay được thiết lập trong Năm Thánh 2000. Chính trong dịp này, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên thánh cho Faustina Kowalska (1903-1938), một nữ tu Ba Lan có lòng yêu mến và nhiệt thành truyền bá sứ điệp Lòng Thương Xót của Chúa. Đồng thời, ngài cũng ấn định cho toàn thể Giáo Hội mừng lễ này vào Chúa Nhật thứ hai sau Chúa Nhật Phục Sinh.

Mừng lễ Lòng Chúa Thương Xót trong Chúa Nhật II Phục Sinh năm nay, chúng ta cùng nhau suy niệm hai điểm sau đây:

  1. Lòng Chúa Thương Xót là biểu lộ của tình yêu Thiên Chúa.

Con người có thể định nghĩa và diễn tả tình yêu theo nhiều cách thức khác nhau. Nhưng nơi Thiên Chúa, tình yêu của Ngài dành cho con người là vô điều kiện và không thể diễn tả trọn vẹn bằng ngôn từ của con người. Ngài yêu không chỉ bằng lời nói, lời hứa mà còn bằng một hành động vượt lên trí hiểu của con người. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Con Thiên Chúa đã chết và phục sinh để đền tội cho con người, bởi vì “Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta: khi chúng ta còn là tội nhân, thì Đức Kitô đã chết vì chúng ta” (Rm 5,8).

Nơi cuộc đời và sứ vụ của Đức Giêsu Kitô, tình yêu Thiên Chúa được thể hiện cách liên tục và chạm đến mỗi người chúng ta. Lòng Thương Xót của Chúa chính là biểu lộ của tình yêu ấy dành cho con người.

Hôm nay, trong bài Tin Mừng thánh Gioan, chúng ta nghe việc Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra ban bình an cho các Tông Đồ, nhưng lúc đó không có Tôma. Tám ngày sau, khi Tôma có mặt với anh em, Chúa Phục Sinh lại hiện ra và cũng ban bình an cho các ông. Điều đáng lưu ý ở đây là trong lần hiện ra này, Ngài không trách Tôma, nhưng tỏ lòng thương xót ông. Ngài mời gọi Tôma chạm vào các dấu đinh và cạnh sườn của Ngài, để giúp ông tin. Chúa nói với Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20, 27-28). Tôma được Chúa yêu thương và thương xót, nên ông đã thưa lên cách mạnh mẽ: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Ông mạnh dạn tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa và là Thiên Chúa của mình. Và Đức Giêsu nói với Tôma: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20,29). Tôma được diễm phúc thấy Chúa; còn chúng ta hôm nay cũng thật hạnh phúc khi được biết Chúa, tin vào Chúa và yêu mến Chúa, dù không thấy Ngài trực tiếp. Hạnh phúc ấy chính là hoa trái của lòng thương xót Chúa dành cho chúng ta. Vì thế, chúng ta hãnh diện là con cái Chúa, hãnh diện là người Kitô hữu trong Giáo Hội Công Giáo.

Qua đó, chúng ta cảm nhận được một điều là: Chúa Giêsu thông cảm, hiểu cho sự yếu đuối và cứng lòng tin của Tôma, và Ngài đã thương xót ông. Nhiều khi trong cuộc sống hôm nay, chúng ta cũng có thể có những lần yếu đuối giống như Tôma ngày xưa: nghi ngờ, cứng cỏi, có khi bỏ Chúa, xa Giáo Hội, đi tìm những điều khác ngoài Chúa, như đi coi thầy, xem bói, xin quẻ, tin vào những thế lực ma quỷ. Nhưng Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, vẫn kiên nhẫn chờ đợi, vẫn yêu thương và vẫn mời gọi chúng ta ăn năn tội, sám hối trở về với Ngài.

  1. Các bí tích là dấu chỉ của lòng thương xót Chúa.

Những cách thức mà Thiên Chúa tỏ lòng thương xót cho con người luôn luôn cụ thể và dễ hiểu. Ngài ban cho chúng ta những phương thế hữu hiệu để đón nhận lòng thương xót ấy, đó là các bí tích. Các bí tích chính là dấu chỉ của lòng thương xót Chúa dành cho con người. Chẳng hạn, Bí tích Thánh Thể là bí tích của tình yêu: Chúa ở lại với chúng ta và nuôi dưỡng chúng ta bằng chính Mình và Máu Ngài. Bí tích Hòa Giải là bí tích của lòng thương xót: Chúa tha thứ tội lỗi và chữa lành những vết thương của chúng ta.

Các bí tích chính là những “kênh” hay “máng” chuyển thông lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúa trao cho Giáo Hội sứ mạng gìn giữ và phân phát các ơn thánh khi cử hành các bí tích, để Giáo Hội là trung gian trần thế, trở thành nơi đón nhận, tha thứ và “nối kết” con người với Thiên Chúa.

Lời mời gọi:

Trong Chúa Nhật kính Lòng Chúa Thương Xót hôm nay, chúng ta được mời gọi cảm nhận rằng: lòng thương xót chính là cách Thiên Chúa yêu thương chúng ta, và các bí tích trong Giáo Hội là dấu chỉ cụ thể của lòng thương xót ấy. Tình yêu đó không phải là lý thuyết, nhưng là một tình yêu cụ thể, chạm đến đời sống chúng ta, tha thứ cho chúng ta và nuôi dưỡng chúng ta qua các bí tích.

Điều cần được suy nghĩ ở đây là:

Chúng ta có thật sự mở lòng đón nhận lòng thương xót Chúa không?

Chúng ta có sẵn lòng đến với Bí tích Thánh Thể và Hòa Giải để lãnh nhận ơn thánh của Chúa không?

Chúng ta có “chịu” để cho Chúa yêu, tha thứ và biến đổi mình không?

Hay nói cụ thể: Chúng ta có muốn để Chúa thương xót chúng ta không?

Và mỗi người chúng ta hôm nay có kinh nghiệm cá nhân nào để có thể chia sẻ với anh chị em, rằng mình đã được Chúa thương xót và đang thật sự sống trong bình an của Chúa không?

Xin Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Giêsu Phục Sinh đã ban cho các Tông Đồ ngày xưa, và cũng ban cho chúng ta hôm nay nữa, hướng dẫn mỗi người chúng ta, để chúng ta đến với Chúa Giêsu, và nhờ Chúa Giêsu, chúng ta được “kết nối” hay “nối mạng” về với Chúa Cha, hầu cảm nhận sâu đậm hơn lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Amen.

SUY NIỆM III

GẶP GỠ VỚI ĐẤNG PHỤC SINH

Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, O.P.

Chúc anh em được bình an

Câu chuyện xảy ra vào buổi chiều ngày Phục Sinh. Cho đến lúc này, cái chết đau thương của Ðức Giêsu vẫn là ám ảnh lớn nhất trong tâm trí các Tông đồ. Các ông buổn bã, thất vọng, và hơn thế nữa, các ông sợ người Do Thái trả thù. Các ông tụ họp nhau tại một căn phòng – có lẽ là căn phòng ở đó các ông đã cử hành bữa tiệc vượt qua. Như là để ôn lại những kỷ niệm thân thương, êm đềm nhất của Vị Thầy đã từng chia sẻ với các ông biết bao nhiêu buồn vui. Các ông tụ họp nhau như để sống lại những biến cố, những hình ảnh của Vị Thầy mà các ông đã gửi trọn niềm hy vọng, đã trao phó cả cuộc đời. Và các ông tụ họp bên nhau như là để tìm một sức mạnh, để cùng nhau chia sẻ nỗi sợ hãi đang đè nặng trên mỗi người.

Thình lình, tại căn phòng ấy, khi các cửa đều đóng kín, Ðức Giêsu đã xuất hiện giữa các môn đệ và ngỏ lời chào: “Chúc anh em được bình an”.

Thật là một lời chào ý nghĩa, phù hợp với hoàn cảnh bi đát của các môn đệ. Tuy vậy, lời chào được kể ra ba lần trong hai lần gặp gỡ không chỉ có mục đích trấn an các môn đệ. Lời chào ấy cũng không chỉ có tính cách xã giao, không chỉ là một lời cầu chúc, một lời hứa; trái lại, đó là một thực tại, một ân huệ.

Ngay sau lời chào, Ðức Giêsu đã cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn. Trước mặt các môn đệ là con người mà các ông đã tận mắt nhìn thấy đã chết trên thập giá, đã bị đâm thấu cạnh sườn. Trước mặt các môn đệ là con người đã từng sống với các ông, đã giảng dạy, đã làm nhiều phép lạ… Người hiện diện giữa các ông để trao tặng cho các ông ân sủng phong phú của mầu nhiệm Phục Sinh. Người đã trải qua cái chết, đã chiến thắng nó, và giờ đây, Người không còn bị giới hạn bởi những điều kiện không gian và thời gian. Người hiện diện ở bất cứ nơi nào, vào bất cứ lúc nào và trao tặng hồng ân của con người đã vượt qua cái chết.

Cũng ngay sau lời chào, Ðức Giêsu thổi hơi vào các môn đệ và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. Hình ảnh này nhắc lại câu chuyện xa xưa, khi Thiên Chúa sáng tạo con người. Lúc khởi đầu vũ trụ, Thiên Chúa đã thổi hơi vào mũi của Ađam và ban cho ông sự sống. Nhưng lần này, hơi thở Ðức Giêsu thổi trên các môn đệ là một ngôi vị, đó là Thánh Thần, mà một trong những hoa quả của Thánh Thần là bình an (x. Gl 5,22).

Rồi, liền sau đó, Ðức Giêsu trao quyền cho các môn đệ để các ông tiếp tục công trình của Người. Các ông đã được nhìn thấy Ðấng Phục Sinh, đã đón nhận bình an, đã lãnh nhận Thánh Thần, các ông sẽ phải ra đi để loan báo, để làm chứng, trước hết cho người môn đệ vắng mặt: ông Tôma.

Phúc thay những người không thấy mà tin

Khi ông Tôma vắng mặt, Ðấng Phục Sinh đã hiện ra với các môn đệ khác, đã cho các ông nhìn thấy những vết thương để minh chứng cho các ông hiểu Người đã sống lại, đã hoàn tất công trình cứu độ.

Khi các môn đệ nói với ông Tôma: “Chúng tôi đã được thấy Chúa”, ông đã không tin. Ông nghĩ rằng mình cũng phải có kinh nghiệm như các môn đệ kia: “Nếu tôi không thấy… nếu tôi không xỏ ngón tay…”. Không phải rằng Tôma không muốn tin, nhưng ông mong muốn có bằng chứng cụ thể, muốn có một kinh nghiệm trực tiếp, kinh nghiệm cá nhân về Ðức Giêsu. Chính vì thế, trong lần gặp gỡ thứ hai, Ðức Giêsu đã nói với ông Tôma: “Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa bàn tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy”.

Như vậy, đức tin Kitô giáo là một cuộc gặp gỡ cá nhân với Ðức Giêsu Kitô. Ðức tin đó không khởi đầu từ bất cứ điều gì khác, dù đó là Sách Thánh hay truyền thống tôn giáo, nhưng khởi đầu từ một con người sống động: Ðức Giêsu là Chúa.

Trong câu chuyện này, có thể các môn đệ đã đi trước Tôma một bước. Thế nhưng, để tin vào mầu nhiệm Phục Sinh, các ông vẫn cần có những chứng cớ. Nói cách khác, các ông không thể tin rằng Ðức Kitô đã phục sinh nếu như Người không hiện ra cho các ông. Các ông cần có kinh nghiệm cụ thể, hữu hình để rồi các ông sẽ là chứng nhân cho các thế hệ mai sau. Không nên hiểu câu nói của Ðức Giêsu với ông Tôma như là một lời trách móc, trái lại nên coi đó như một lời khuyến khích, động viên không phải ai cũng có diễm phúc được nhìn thấy Ðấng Phục Sinh, nhưng ai cũng phải tin vào Người, dựa trên lời chứng của những người đã nhìn thấy, tức là các môn đệ.

“Lạy Chúa, là Thiên Chúa của tôi”

Làm sao có được niềm tin chân thực khi mà ngay cả ông Tôma cũng chưa nhận ra Ðức Giêsu Phục Sinh đang hiện diện cách thể lý.

Nghi ngờ! Một thái độ quen thuộc.

Con người dường như luôn chìm trong thái độ nghi ngờ. Trong các biến chuyển của xã hội, trên khuôn mặt của đám đông dân chúng, dường như chẳng có gì là thần thiêng, chẳng có gì chứng tỏ sự hiện diện của Ðấng Phục Sinh.

Tuy vậy, chính đức tin cho chúng ta hiểu rằng Ðấng Phục Sinh vẫn đang hiện diện giữa nhân loại. Cần phải ghi nhớ điều này: hoạt động của Người càng âm thầm, thì hoạt động ấy càng mãnh liệt. Ðấng Phục Sinh vẫn đang hiện diện cách sâu xa và hiệu quả hơn khi Người mang thân xác con người. Ðó chính là điều người Kitô hữu phải khám phá, phải sống và loan báo.

Kinh nghiệm của môn đệ Tôma thực là gương mẫu cho chúng ta, đó là khao khát quyền năng của mầu nhiệm Phục Sinh thể hiện trong cuộc đời của mình cũng như của cộng đổng. Chúng ta không chỉ mong đụng chạm với Ðấng Phục Sinh cho bằng muốn Người bày tỏ sức mạnh của Người để giải thoát chúng ta khỏi những nghi ngờ. Chính lúc ấy, và chỉ vào lúc ấy, Ðức Giêsu mới thực sự là “Chúa, là Thiên Chúa của tôi”.

* * * * *

Ôi Ðức Kitô Phục Sinh,

Chúa là Ðấng Hằng Sống.

Nhờ Thánh Thần của Chúa Cha, Chúa đã phục sinh vinh hiển, xin đến và mở toang cánh cửa tâm hồn của mỗi người cũng như của cộng đoàn chúng con. Xin ánh sáng rạng ngời của Chúa xua tan bóng tối sợ hãi đang vây phủ chúng con.

Ôi Ðức Kitô Phục Sinh, Chúa là ân huệ đầu tiên,

là ân sủng cao quý nhất do Chúa Cha trao tặng, xin ban cho chúng con nhũng ân huệ có sức cứu độ: đó là niềm vui, sự tha thứ.

Xin nói với chúng con:

“Chúc anh em được bình an”.

Ước gì chiến thắng của Chúa trên sự dữ

giải thoát chúng con khỏi những chia rẽ và hận thù, và ban cho chúng con ơn cứu độ và niềm vui. Ôi Ðức Kitô vinh hiển, xin cho chúng con được chạm đến

những dấu hiệu cho thấy sự hiện diện mới của Chúa

đó là cộng đoàn Thánh Thể, là việc chia sẻ Bánh Thánh và Tình Thương để như môn đệ Tôma, chúng con đủ tin để tuyên xưng rằng:

“Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của tôi”.

SUY NIỆM IV

TỪ NGƯỜI ĐƯỢC THƯƠNG XÓT ĐẾN NGƯỜI  BIẾT XÓT THƯƠNG

jn.nvh

Có những cánh cửa trong đời người không khóa bằng then sắt, mà bằng nỗi sợ. Sợ bị xét đoán. Sợ phải đối diện với sự thật về chính mình. Sợ rằng nếu mọi chuyện được đưa ra ánh sáng, mình sẽ không còn gì để đứng vững.

Có một câu chuyện kể về một người lính bị đưa ra trước mặt vị tướng Robert E. Lee vì đã vi phạm quân luật. Anh run rẩy, sợ hãi. Vị tướng nói với anh: “Anh đừng sợ. Ở đây anh sẽ được công lý soi tỏ.” Người lính ngước lên và thưa: “Thưa ngài, đó chính là điều tôi sợ.” Một câu trả lời nghe rất lạ, nhưng lại rất thật. Bởi vì nếu chỉ là công lý, thì người ta biết mình sẽ bị kết án. Khi sự thật được phơi bày, con người không còn gì để bào chữa.

Có lẽ, đó cũng là tâm trạng của các môn đệ trong Tin Mừng hôm nay. Cánh cửa họ đóng kín không chỉ vì sợ bên ngoài, mà còn vì sợ bên trong. Sợ phải nhớ lại những gì đã xảy ra. Sợ phải đối diện với việc mình đã bỏ Thầy, đã không trung thành như đã hứa.

Và chính trong không gian đóng kín ấy, Chúa Giêsu đến. Ngài không gõ cửa, không chờ họ mở ra. Ngài bước vào. Điều đầu tiên Ngài nói không phải là một lời trách móc, nhưng là: “Bình an cho anh em.” Một lời chào nhẹ nhàng đủ làm dịu đi cả một tâm hồn đang xao động.

Nếu là con người, có lẽ chúng ta sẽ hỏi: “Tại sao các anh bỏ tôi?” Nhưng Chúa thì không. Ngài không nhắc lại lỗi lầm. Ngài không đòi giải thích. Ngài chỉ cho các ông thấy những vết thương. Những vết thương ấy vẫn còn đó, nhưng không còn là dấu tích của thất bại. Chúng trở thành bằng chứng của một tình yêu đã đi đến cùng.

Ở đây, chúng ta bắt đầu hiểu một điều rất quan trọng: Thiên Chúa không phủ nhận công lý, nhưng Ngài đi xa hơn công lý. Ngài mở ra một con đường khác, con đường của Lòng Thương Xót. Nếu chỉ là công lý, các môn đệ không còn hy vọng. Nhưng vì có Lòng Thương Xót, họ có thể bắt đầu lại.

Tám ngày sau, Chúa lại đến. Lần này có Tôma. Ông không có mặt trước đó, và ông không tin. Ông muốn thấy, muốn chạm, muốn chắc chắn. Có thể chúng ta dễ trách ông. Nhưng nếu thành thật, chúng ta sẽ nhận ra mình trong đó. Có những lúc chúng ta cũng nói với Chúa: nếu con không thấy, con không tin. Không phải vì chúng ta chống lại Chúa, nhưng vì chúng ta sợ tin rồi lại thất vọng.

Và Chúa Giêsu đã làm một điều vô cùng cảm động. Ngài quay lại, chỉ vì một người. Ngài không đứng từ xa mà nói. Ngài đến gần, và nói: “Hãy đặt tay vào đây.” Chúa không loại trừ sự yếu đuối. Ngài đi vào đó. Ngài không dập tắt một đức tin còn mong manh. Ngài kiên nhẫn làm cho nó lớn lên.

Tôma đã thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.” Đó không còn là một lời nghe lại từ người khác, mà là lời phát xuất từ một cuộc gặp gỡ. Đức tin không chỉ là hiểu biết, nhưng là kinh nghiệm. Khi con người thật sự chạm vào Lòng Thương Xót, họ sẽ thay đổi.

Nhưng Tin Mừng không dừng lại ở đó. Chúa nói: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” Nghĩa là, điều các môn đệ đã nhận, họ được mời gọi trao lại. Họ đã được tha thứ, thì họ cũng phải biết tha thứ. Họ đã được đón nhận, thì họ cũng phải biết đón nhận người khác.

Đây chính là đòi hỏi của đức tin khi đón nhận lòng thương xót của Chúa. Lòng Thương Xót không chỉ ở trong những việc to tát, mà ở trong những điều rất bình thường của đời sống. Một lời nói nhẹ nhàng thay vì cộc cằn. Một sự nhẫn nhịn thay vì hơn thua. Một sự tha thứ thay vì giữ lại vết thương. Một sự quan tâm âm thầm thay vì thờ ơ.

Có một điều rất đáng suy nghĩ: người ta có thể quên những gì chúng ta nói, nhưng họ sẽ nhớ cách chúng ta đối xử với họ. Và chính trong những điều rất nhỏ ấy, Lòng Thương Xót trở nên hữu hình.

Có khi chúng ta nghĩ rằng phải làm điều gì đó thật nổi bật mới là sống đức tin. Nhưng có lẽ điều Chúa chờ đợi lại đơn sơ hơn nhiều: sống sao để khi người khác gặp mình, họ thấy lòng nhẹ hơn. Không thấy bị xét đoán, nhưng được cảm thông. Không thấy xa cách, nhưng được đón nhận.

Khi đó, dù chúng ta không nói nhiều về Chúa, người khác vẫn có thể nhận ra Ngài.

Xin cho mỗi người chúng ta, khi đã được chạm vào Lòng Thương Xót của Chúa, cũng biết trở thành một dấu chỉ của Lòng Thương Xót ấy giữa đời. Không cần phải rực rỡ. Không cần phải nổi bật. Chỉ cần chân thành và trung tín.

Để rồi, qua những điều rất bình thường của cuộc sống, người khác có thể nhận ra một điều không hề bình thường: Thiên Chúa vẫn đang hiện diện, và Ngài vẫn giàu lòng thương xót. Amen.

Gia Vị Cho Bài Giảng Lễ Chúa Nhật 2 Phục Sinh

Nguồn: giaophancantho.org

“Chúng ta là những người thích nghe những câu chuyện về đời sống hằng ngày cũng như về đời sốngđức tin…Các câu chuyện đi sâu vào những nơi kín ẩn nhất trong chúng ta và mở ra cho chúng ta những cách thế mới và thân tình để hiểu nhau” – Nuala Kenny

 LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG HÀNH ĐỘNG

Tạp chí TIME năm 1984 đã in hình một trang bìa rất đáng chú ý: trong một phòng giam có hai người đàn ông ngồi trên hai chiếc ghế xếp bằng kim loại. Chàng trai trẻ mặc một chiếc áo len cổ lọ màu xanh, quần jeans xanh và giày màu trắng. Người đàn ông lớn tuổi mặc một chiếc áo choàng trắng đội một chiếc mũ sọ màu trắng trên đầu. Họ ngồi đối mặt với nhau, cận cảnh và rất riêng tư. Họ nói nhỏ để người khác không nghe thấy cuộc trò chuyện. Người thanh niên đó tên là Mehmet Ali Agca, kẻ ám sát Giáo hoàng (hắn đã bắn và làm ngài bị thương vào ngày 13 tháng 5 năm 1981); người đàn ông kia là Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, nạn nhân chủ mưu của tên ám sát. Đức Giáo hoàng nắm lấy bàn tay đã cầm khẩu súng mà viên đạn của nó đã găm vào cơ thể của ngài. Đây là một biểu tượng sống động của lòng thương xót. Sự tha thứ của Đức Gioan Phaolô II mang đậm dấu ấn tình yêu Kitô giáo. Hành động của ngài với Ali Agca đã nói thay cho hàng nghìn lời diễn đạt. Ngài ôm lấy kẻ thù của mình và xin ân xá cho anh ta. Vào cuối cuộc gặp mặt kéo dài 20 phút của họ, Ali Agca đã cầm tay Đức Giáo hoàng và đặt lên trán của mình như một biểu hiệu của sự tôn kính. Đức Giáo hoàng dịu dàng bắt tay anh. Khi rời phòng giam, Đức Giáo hoàng nói: “Những gì chúng tôi đã nói với nhau phải được giữ bí mật. Tôi đã nói chuyện với anh ấy như một người anh em mà tôi đã tha thứ và anh là người đã hoàn toàn tin tưởng tôi”.

* Đây là một mẫu gương thể hiện Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Đó chính là Lòng Thương Xót mà thánh Faustina đã cảm nghiệm và chia sẻ với chúng ta.

  1. “VẬY THÌ TÔI SẼ THƯƠNG XÓT”

Hoàng đế Napoléon đã tỏ ra rất xúc động trước lời cầu xin ân xá của người mẹ cho đứa con trai là quân nhân của bà. Tuy nhiên, Hoàng đế nói rằng vì đây là lần phạm tội nặng thứ hai của người lính, nên công lý đòi hỏi anh ta phải chết. Bà mẹ van nài: “Tôi không yêu cầu công lý, tôi xin lòng thương xót.” Nhưng hoàng đế nói: “Nó không đáng được thương xót!” Bà mẹ kêu lên: “Thưa ngài, sẽ không cần  lòng thương xót vì nó đáng bị như vậy, nhưng lòng thương xót là tất cả những gì tôi cầu xin với ngài.” Vẻ đau khổ và cách biện luận rạch ròi của người mẹ đã thúc đẩy Napoléon trả lời: “Vậy thì, tôi sẽ thương xót.”

* Chúa Nhật Thứ Hai của Mùa Phục Sinh mời gọi chúng ta suy ngẫm về tình yêu thương và lòng thương xót vô hạn của Thiên Chúa dành cho chúng ta, như được trình bày trong Kinh Thánh và như Chúa Giêsu đã sống, giảng dạy, cũng như thực hành qua sứ vụ của Người.

  1. THƯA ÔNG ĐÓ LÀ ĐIỀU TÔI SỢ

Có một câu chuyện về một người lính nọ được đưa đến trước mặt đại tướng Robert E. Lee. Anh bị buộc tội đã hành động vi phạm quân luật, người lính run rẩy sợ sệt. Vị tướng nói với anh ta: “Anh đừng sợ. Ở đây bạn sẽ được công lý soi tỏ”. Người lính nhìn viên tướng và nói: “Thưa ngài, đó chính là điều tôi sợ.” Giống như người lính đó, ông Phêrô có lý do để run sợ. Ông đã khoe khoang về lòng dũng cảm của mình, rằng ông sẽ luôn sát cánh và bảo vệ Chúa Giêsu. Tuy nhiên, khi Chúa Giêsu cần ông nhất, thì ông đã bỏ rơi Chúa. Có lẽ người ta có thể tha thứ cho ông vì ông đã bị cơn thèm ngủ đè nặng. Nhưng sau đó với tất cả ý thức, ông đã chối bỏ Chúa Giêsu ba lần, với cùng một lời khẳng định: “Tôi không biết người ấy. Một tảng đá mà như thế! Theo công lý nghiêm minh, Phêrô lẽ ra phải bị trừng phạt, ít nhất, bị tước bỏ tư cách người đứng đầu Giáo hội. Tuy nhiên, qua cuộc khổ nạn, Chúa Kitô đã mở ra một công lý sâu xa hơn, vượt qua những khuôn khổ cố hữu của con người. Đó là những gì chúng ta sẽ khám phá và trải nghiệm về Lòng Chúa Thương Xót này.

  1. NÂNG CAO TINH THẦN CHO NHAU

Bạn đã bao giờ nhìn thấy đàn ngỗng bay theo hình chữ V chưa? Đó là một điều tuyệt vời khi người ta tìm hiểu để biết rằng cấu hình đó là điều hết sức cần thiết để những con ngỗng có thể sống còn. Nếu chú ý lắng nghe, chúng ta có thể nhận thấy tiếng đập cánh của chúng đồng loạt bật lên tiếng rít mạnh trong không khí. Và đó chính là bí mật về sức mạnh của chúng: ngỗng đầu đàn cắt ngang sức cản của không khí, tạo ra lực đẩy giúp cho những con chim phía sau nó mất ít năng lượng hơn. Đổi lại, việc đồng loạt vỗ cánh giúp những con chim phía sau bay dễ dàng hơn, v.v. Mỗi con chim sẽ lần lượt làm đầu đàn. Những con bị mệt thì dạt ra rìa của chữ V để nghỉ, và những con còn lại lao về phía điểm đầu của chữ V để dồn thúc bầy ngỗng bay tiếp. Nếu một con ngỗng trở nên quá kiệt sức hoặc bị bệnh và phải bỏ ra khỏi đàn, nó không bao giờ bị bỏ rơi. Một thành viên mạnh hơn trong bầy sẽ theo con yếu hơn đến chỗ nó nghỉ và đợi cho đến khi con chim đủ khỏe để bay trở lại. Cùng nhau hợp tác thành đàn, ngỗng có thể bay ở cự ly xa hơn 71%, với công việc ít hơn tới 60% năng lượng.

  1. CHỮA BỆNH CHO NỖI BUỒN

Có một câu chuyện cổ của Trung Quốc về một người phụ nữ có đứa con trai duy nhất đã chết. Trong nỗi đau buồn tột độ, bà đến gặp một vị đạo sư và nói: “Lời cầu nguyện nào, câu thần chú huyền diệu nào có thể làm cho con trai tôi sống lại được?” Thay vì đuổi bà ấy đi hoặc cố gắng giải thích cho bà ấy, đạo sĩ nói: “Bà hãy đi tìm cho tôi một hạt cải từ một ngôi nhà chưa bao giờ biết đến nỗi buồn. Tôi sẽ dùng để xua đuổi nỗi buồn của bà ra khỏi cuộc sống”. Người phụ nữ tất tả đi ngay để tìm hạt mù tạt kỳ diệu đó. Trước tiên, bà ấy đến một ngôi biệt thự lộng lẫy, gõ cửa và nói: “Tôi đang tìm một ngôi nhà chưa bao giờ biết đến nỗi buồn. Đây có phải là một nơi như vậy không? Điều này rất quan trọng đối với tôi”. Họ nói với bà ấy: “Chắc bà đã đến nhầm chỗ rồi!” Và họ bắt đầu mô tả tất cả những điều bi thảm gần đây đã xảy ra với gia đình họ. Người phụ nữ tự nhủ: “Ai có thể giúp đỡ những người nghèo khổ, bất hạnh này hơn tôi, những người cũng gặp bất hạnh như tôi?” Bà ta ở lại một thời gian để an ủi họ, rồi lại tiếp tục đi tìm một căn nhà chưa bao giờ biết đến nỗi buồn. Nhưng ở bất cứ nơi nào bà ấy đến, từ những căn nhà nhỏ tồi tàn đến những nơi nơi sang trọng khác, bà ấy đều nghe thấy hết những chuyện bất hạnh này đến nỗi buồn khác. Mỗi lần như vậy bà lại tìm cách lan tỏa những năng lượng tích cực để xua tan nỗi đau của người khác, đến nỗi cuối cùng bà ấy đã quên đi cuộc tìm kiếm hạt cải kỳ diệu, và cũng quên luôn nỗi buồn trong việc mất đứa con yêu dấu.

  1. DỤC TỐC BẤT ĐẠT

Một người đàn ông nhìn thấy một tổ kén của một con bướm. Một lát sau, anh ta thấy có một lỗ nhỏ xuất hiện. Anh ngồi và quan sát con bướm trong nhiều giờ và thấy nó cố gắng ép cơ thể mình chui qua cái lỗ nhỏ đó. Nhưng dường như không tiến thêm được chút nào, như thể nó đã bò xa nhất có thể rồi. Vì vậy, người đàn ông quyết định giúp nó, anh lấy một cái kéo và cắt bỏ phần còn lại của tổ kén. Con bướm sau đó nhô ra khỏi tổ một cách dễ dàng. Nhưng nó có một cơ thể sưng tấy và đôi cánh nhỏ, teo tóp. Người đàn ông tiếp tục quan sát con bướm vì anh ta mong đợi rằng, bất cứ lúc nào, đôi cánh sẽ dang rộng và nở ra để có thể nâng cơ thể của nó lên. Nhưng cả hai điều đều không xảy ra! Thật sự, con bướm đã phải dành phần đời còn lại của mình để bò xung quanh với cơ thể sưng tấy và đôi cánh teo tóp. Chứ không bao giờ có thể bay được. Điều mà người đàn ông, với lòng tốt và sự vội vàng của mình, đã không hiểu là cái tổ kén gò bó đó và sự nỗ lực chui ra là cần thiết đối với con bướm. Chui qua lỗ nhỏ là cách mà quy luật tự nhiên đã sắp đặt để ép một chất lỏng từ cơ thể nó vào đôi cánh, tạo cho nó có thể sẵn sàng cho chuyến bay khi nó thoát ra khỏi kén.

Đôi khi những nỗ lực và phấn đấu chính là thứ chúng ta cần trong cuộc sống. Nếu Chúa cho chúng ta đi qua cuộc đời mình mà không gặp bất kỳ trở ngại nào, điều đó có thể khiến chúng ta tê liệt. Chúng ta sẽ không thể mạnh mẽ như chúng ta có thể; chúng ta không bao giờ có thể bay! Vì vậy, những thử thách trong cuộc sống có thể là một dấu chỉ của lòng Chúa thương chúng ta.

  1. MỌI SỰ LÀM CỦA CHUNG

Theo sách Công vụ Tông đồ những Kitô hữu đầu tiên đều “một lòng một ý”. Họ chia sẻ tài sản của mình cho nhau, để không ai thiếu thốn. Một số thậm chí đã bán đồ đạc của họ và gom vào quỹ chung để chu cấp cho mọi người trong cộng đoàn. Tinh thần bác ái cao quý này không tồn tại lâu lắm, bởi vì trong những năm sau đó, những đấng lập ra các dòng tu đã phải khôi phục lại tình trạng sở hữu chung như một phần của luật dòng của họ. Vì vậy, khi thánh Bênêđictô (Biển Đức) viết điều luật cho các tu sĩ của mình vào thế kỷ thứ sáu, ngài đã ra lệnh: “Hãy để mọi sự làm của chung cho tất cả mọi người.” Con người vốn mang bản tính sở hữu. Do đó không phải tất cả các tu sĩ Bênêđictô đều sống theo lý tưởng nghèo khó cá nhân. Một lần kia một tu sĩ đã đi giảng tĩnh tâm cho một tu viện nữ gần đó. Để bày tỏ lòng cảm ơn, các nữ tu đã trao cho thầy dòng vài chiếc khăn tay. Mặc dù tu luật ghi rằng không một tu sĩ nào được nhận bất cứ thứ gì mà không qua tu viện trưởng, nhưng thầy dòng này quyết định giữ món quà nhỏ lại cho riêng mình mà không thông qua bề trên. Anh chỉ đơn giản là nhét chiếc khăn tay vào trong tu phục của mình. Nhưng việc này không bị bỏ qua. Khi anh trở lại tu viện, bề trên Bênêđictô đã mắng anh: “Làm sao mà ma quỷ lại tìm được đường đi vào tâm hồn anh như thế?” Thầy dòng này vô cùng bối rối, vì anh ta đã quên chiếc khăn tay mình đã giữ lại. Nhưng lỗi của anh đã bị tiết lộ cho tu viện trưởng Bênêđictô. Ngài nói mạnh: “Có phải vì tôi không có mặt, nên anh mới nhận những chiếc khăn tay đó phải không?” Ngay lập tức vị tu sĩ nhận biết mình có lỗi, anh quỳ xuống trước vị thánh, xin ngài tha thứ và trao món quà lại cho bề trên.

Khi nói về cộng đoàn tín hữu đầu tiên đây là một nét son của họ, nhưng chắc chắn mỗi thành viên phải phấn đấu rất nhiều mới có thể duy trì được lí tưởng ấy. Tham vọng của cộng sản nguyên thủy: “các tận sở năng, các mãn sở nhu” (làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu) đã hoàn toàn thất bại, và bị coi là hão huyền!

Linh mục Giuse Ngô Quang Trung sưu tầm

SUY NIỆM V

CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH ĐANG SỐNG GIỮA CHÚNG TA

Tuần 2 Phục Sinh (Hội An 12/4/2026)

Lm. Giuse Nguyễn Văn Thú

Sau khi Chúa Giê-su chịu chết, các môn đệ co cụm lại trong nhà đóng kín cửa. Điều đó dễ hiểu, vì họ sợ người Do Thái lùng bắt và giết chết. Thế nhưng, một tuần đã trôi qua, lời “Alleluia” đã cất lên giữa nghịch cảnh cuộc đời, tin mừng loan báo mồ trống và Phê-rô cùng Gioan đã chứng thực không thấy xác Chúa trong thế giới của kẻ chết, Mađalêna làm chứng: “Tôi đã thấy Chúa,” thế mà cửa nhà của các môn đệ vẫn khóa kín. Tại sao biến cố Chúa sống lại không làm thay đổi cuộc đời của các môn đệ? Riêng chúng ta, Chúa phục sinh có làm cho đời sống chúng ta sống khác không?

  1. Chúa Giê-su không chỉ đã sống lại

Thánh Gioan cho biết, trong tuần đầu tiên này không có chút thay đổi nào trong đời sống các môn đệ Chúa. Không chỉ vì mồ trống, nên họ buồn rầu và nghi ngờ vì có người đã lấy trộm xác Chúa, mà còn sợ hãi người Do Thái đang lùng bắt những ai là môn đệ và từng đi theo Chúa Giê-su. Một vài người cho rằng các môn đệ còn xấu hổ với Chúa Giê-su, bởi các môn đệ từng bán Chúa, chối Chúa và bỏ Chúa mà chạy trốn, nên muốn tránh mặt Chúa. Mặc cảm phản bội Thầy của mình làm sao xóa mờ trong ký ức được! Có lẽ còn nhiều lý do riêng trong từng người khiến ai nấy đều đồng lòng khóa chặt cửa lại. Quả thật, Chúa đã sống lại, nhưng chưa chạm đến cuộc đời họ, không có gì biến đổi trong đời họ.

Còn chúng ta thì sao? Chúng ta không thể phủ nhận sinh hoạt tuần thánh và đại lễ Chúa phục sinh trong các giáo xứ rất long trọng, ai nấy nỗ lực trình bày biến cố Chúa sống lại để thu hút sự quan tâm của mọi người, cả cho người ngoài Ki-tô giáo. Chúng ta vui mừng rất đông tín hữu tham dự thật sốt sắng trong suốt thời gian dài lễ nghi và thánh lễ trong những cử hành thánh thiện đó. Đại lễ Chúa phục sinh là một sự kiện, một biến cố lớn trong đời sống xã hội và Ki-tô giáo. Nhưng sau lễ phục sinh thì sao? Niềm vui thánh thiện trong lòng mỗi người có còn không hay không còn dấu vết gì? Tôi tự hỏi, đã một tuần trôi qua, biến cố Chúa phục sinh mang lại cho tôi điều gì? Có làm đời sống đức tin của tôi khác đi không? Trước đây tôi lười biếng thờ phượng Chúa, qua lễ Phục Sinh tôi cũng vậy sao? Trước đây đời sống đức tin rất mờ nhạt trong gia đình tôi và vẫn như các môn đệ ru rú sau chiếc cửa khóa chặt, nay sau lễ phục sinh rồi mà bầu khí gia đình tôi vẫn là bầu khí trong huyệt mộ sao? Bầu khí và đời sống chúng ta vẫn y nguyên như trước phục sinh sao? Dường như chúng ta cũng như các môn đệ vẫn đóng kín cửa như một tuần trước, vẫn dậm chân tại chỗ trong sợ hãi và rã rời. Tại sao Chúa đã sống lại rồi, còn chúng ta vẫn chưa biến đổi gì?

  1. Chúa Giê-su đang sống với chúng ta

Theo Đức Bênêđíctô, “tâm điểm cho đời sống Ki-tô hữu trước hết là cuộc gặp gỡ Chúa Giê-su Ki-tô.” Điều đó có nghĩa, mọi sự kiện hay biến cố xảy ra, dù ấn tượng đến mức nào cũng sẽ qua đi, nhưng mối tương quan thắm thiết không dễ qua đi. Trong tình yêu, đi là nhớ, xa càng thương, sống là sống với, không gian không là ngăn trở, chỉ lòng người mới quyết định cách ngăn hay không.

Tảng đá lấp cửa mồ không cản trở được tình yêu của Chúa Giê-su dành cho chúng ta. Sự chết không thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Giê-su phục sinh. Tình yêu của Chúa Giê-su mạnh hơn sự chết. Ngài đã sống lại và đến với các môn đệ, ở giữa các môn đệ. Với tình yêu nơi Ngài, Chúa Giê-su không thể xa cách con người. Chiếc cửa đã bị các môn đệ khóa chặt không ngăn được Chúa Giê-su phục sinh đến ở giữa các môn đệ và đem tình yêu cho các môn đệ. Trong một đoạn Phúc Âm ngắn hôm nay, Chúa Giê-su đã ba lần nói với các môn đệ: “Bình an cho các con.” Bình an theo nghĩa Thánh Kinh là sự sống tràn đầy chứ không chỉ là bình an nội tâm. Bình an này chính là quà tặng của Chúa Giê-su phục sinh và là chính Ngài. Có Chúa có bình an. Thánh Augustinô còn giải thích, chúng ta đón nhận được bình an của Chúa khi chúng ta hướng tình yêu của mình tới Thiên Chúa. Như vậy, khi Chúa ban bình an của Ngài cho chúng ta, Chúa cũng muốn chúng ta đáp lại bằng chính tình yêu của chúng ta dành cho Ngài. Chính tình yêu này không để cho Chúa Giê-su phục sinh trở thành nhân vật quá khứ; trái lại, Ngài trở nên Đấng đang sống với chúng ta và chúng ta yêu thương Ngài cũng với tình yêu không bao giờ ngăn cách.

Vậy, sở dĩ cá môn đệ chưa biến đổi dù đã nghe, đã thấy Chúa sống lại, sở dĩ chúng ta trở lại tình trạng nguội lạnh trước lễ phục sinh, cũng vì chúng ta mừng biến cố phục sinh, mà chưa nhận ra Chúa Giê-su phục sinh đang sống với chúng ta, nên chúng ta chưa có mối tương quan thân thiết nào với Ngài. Nếu tôi nhận ra Chúa phục sinh đang sống với tôi, tôi không chỉ hướng tâm hồn về với Ngài, không chỉ cầu nguyện với Ngài mà còn siêng năng chạy đến với Ngài, gặp Ngài và bày tỏ tình yêu đối với Ngài, Đấng đang sống với tôi trong thánh lễ. Nếu đời tôi đã gặp Chúa Giê-su phục sinh và đang sống với Chúa Giê-su phục sinh, không thể nào có tình trạng lễ phục sinh thì đông đảo, sau đó lại ít đi, đến nỗi nhìn vào cộng đoàn tụ họp không thể nhận ra đó là đoàn người sống lại. Niềm tin Chúa Giê-su phục sinh đang sống là niềm tin Chúa hiện diện ngay cả trong thế giới hững hờ với Ngài, cả trong công việc của tôi, cả trong lúc tôi rối bời vì thử thách.

Sự hiện diện của Chúa Giê-su phục sinh công bố cho chúng ta điều lạ thường này: Thiên Chúa không ở đâu xa cả, Ngài ở gần với chúng ta trong bí tích Thánh Thể, Ngài ở đó để chúng ta chạm được vào Ngài, đón nhận Ngài và chuyện trò với Ngài. Thánh Thể chính là Thân Mình Chúa Giê-su phục sinh, Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là người, đang ở với chúng ta. Chính nhờ đức tin vào Chúa Giê-su phục sinh đang sống, đời sống chúng ta được biến đổi như các môn đệ sẽ mở cửa và lao ra loan báo Tin Mừng.

Bài viết được lấy từ website http://giaophandanang.org. Đọc bài viết gốc tại link sau: Chúa Nhật II Phục Sinh Năm A – Kính Lòng Chúa Thương Xót

Bản Đồ Nhà Thờ Cộng Đồng Kênh Radio